Đề cương ôn tập học kì 2 môn Ngữ văn lớp 10 năm 2025 - 2026 (Sách mới) Ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 10 (Cấu trúc mới, đáp án)

Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 năm 2026 gồm 3 sách Cánh diều, Chân trời sáng tạo và Kết nối tri thức, tóm tắt kiến thức cần nắm kèm theo đề minh họa tự luyện với cấu trúc 100% tự luận.

Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 được biên soạn theo cấu trúc tự luận với thang điểm 4 điểm đọc hiểu + 6 điểm tập làm văn. Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 10 giúp các em hệ thống hóa những nội dung cốt lõi, kết nối các kiến thức đã học một cách logic và khoa học. Qua đó, học sinh không chỉ củng cố nền tảng vững chắc mà còn phát triển khả năng tư duy, phân tích và vận dụng linh hoạt vào thực tiễn. Với sự chuẩn bị chủ động và định hướng rõ ràng, các em sẽ thêm tự tin, sẵn sàng chinh phục kì thi cuối học kì 2. Ngoài ra các bạn xem thêm: đề cương ôn tập học kì 2 Toán 10.

Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 năm 2026 

1. Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 Cánh diều

TRƯỜNG THPT ………..

BỘ MÔN: NGỮ VĂN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2025 – 2026

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 10

I. Kiến thức cơ bản cần nắm

Bài 7: Thơ tự do

Bài 8: Văn nghị luận

ĐỌC

- Thơ tự do không có thể thức nhất định, không bị ràng buộc về số dòng, số chữ, vần… có phân dòng; gắn liền với nhu cầu giải phóng cảm xúc khỏi sự ràng buộc chặt chẽ của các quy tắc về hình thức, phản ánh được những khía cạnh mới của cuộc sống đa dạng, thể hiện cái nhìn nghệ thuật mới của nhà thơ

- Nhân vật trữ tình là người trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ… trong bài thơ

- Hình ảnh hiện lên qua việc tác giả sử dụng các từ ngữ và các biện pháp tu từ gợi cho người đọc cảm nhận về bức tranh đời sống thông qua các giác quan; giúp nhà thơ truyền tải cảm xúc, tư tưởng mạnh mẽ…

- Cảm hứng chủ đạo là trạng thái cảm xúc, tình cảm mãnh liệt, xuyên suốt tác phẩm, gắn với một tư tưởng, một cách đánh giá

của tác giả.

- Luận đề: quan điểm bao trùm toàn bộ bài viết, thường được nêu ở nhan đề hoặc trong phần mở đầu của bài viết

- Luận điểm nhằm triển khai làm rõ cho luận đề

- Cách sắp xếp, trình bày các yếu tố trên thể hiện bố cục và trình tự, thứ bậc của hệ thống ý trong bài nghị luận, giúp cho bài viết rõ ràng, mạch lạc

THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT

Phân tích được giá trị của một số biện pháp tu từ đã học.

Nhận biết, phân tích và sửa lỗi về tính

mạch lạc, tính liên kết của đoạn văn và văn bản.

VIẾT

Viết được văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một khía cạnh của tác phẩm thơ.

Viết được văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện hoặc một đoạn trích trong truyện.

NÓI NGHE

Biết giới thiệu, đánh giá một tác phẩm thơ.

Biết giới thiệu, đánh giá, thuyết trình về vẻ đẹp của tác phẩm văn chương.

B. Cấu trúc đề thi học kì 2 Ngữ văn 10

I. Đọc hiểu (4.0 điểm)

- Hình thức: trả lời câu hỏi ngắn

- Nội dung:

+ Văn bản thuộc thể loại văn bản truyện, thơ tự do,…

+ Kiến thức đọc hiểu văn bản: phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ, nhan đề, ý nghĩa hình ảnh, chi tiết…

II. Viết (6.0 điểm)

- Hình thức tự luận.

- Nội dung:

+ Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ tự do (phân tích, đánh giá các yếu tố nội dung như đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng… các yếu tố nghệ thuật: thể loại, nhân vật trữ tình, hình ảnh, từ ngữ, bút pháp nghệ thuật…)

+ Viết bài văn nghị luận văn học phân tích, đánh giá về một tác phẩm truyện ngắn hoặc đoạn trích trong tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết (nhân vật, tình huống, chi tiết đặc sắc…)

C. Đề minh họa có đáp án

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Quê nội ơi
Mấy năm trời xa cách
Đêm nay, ta nằm nghe mưa rơi
Nghe tiếng trời gầm xa lắc...
Cớ sao lòng thấy nhớ thương.

Ôi cơn mưa quê hương
Đã ru hát hồn ta thuở bé,
Đã thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé.
Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối, bẹ dừa,
Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa.
Ta yêu quá như lần đầu mới biết
Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết
Như tre, dừa, như làng xóm quê hương.
Như những con người - biết mấy yêu thương.
Ôi tuổi thơ, ta dầm mưa ta tắm.
Ta lội tung tăng trên mặt nước mặt sông
Ta lặn xuống, nghe vang xa tiếng sấm
Nghe mưa rơi, tiếng ấm tiếng trong.

Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ
Những tàu chuối bẹ dừa, những mảnh chòi nhỏ bé
Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên
Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền
Mưa cuốn đi rồi.

(Trích Nhớ cơn mưa quê hương, Lê Anh Xuân, theo Thivien.net)

Chú thích: Lê Anh Xuân (1940 - 1968) tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh tại tỉnh Bến Tre trong một gia đình nhà giáo yêu nước. Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc. Ông là một nhà thơ, một chiến sĩ.

Nhớ cơn mưa quê hương sáng tác năm 1959 và đạt giải nhì cuộc thi thơ năm 1960 của tạp chí Văn nghệ.

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1: Xác định chủ đề của văn bản.

Câu 2: Trong đoạn trích, những hình ảnh nào thể hiện nỗi nhớ và sự gắn bó của nhân vật trữ tình với quê hương?

Câu 3: Anh/ chị hiểu hai câu thơ: “Ôi cơn mưa quê hương/ Đã ru hát hồn ta thuở bé” như thế nào?

Câu 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của hai biện pháp tu từ trong các câu thơ:

“Ta yêu quá như lần đầu mới biết
Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết
Như tre, dừa, như làng xóm quê hương.
Như những con người - biết mấy yêu thương”.

Câu 5: Từ văn bản, anh/ chị rút ra bài học gì? (Trả lời trong khoảng 3-5 câu văn)

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1: Từ văn bản phần đọc hiểu hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của nhân vật trữ tình với quê hương.

Câu 2: “Thái độ sống tích cực là bí quyết nhỏ để làm nên sự khác biệt lớn” (Mac Anderson). Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) bàn về ý nghĩa của thái độ sống tích cực.

D. Đề thi minh họa tự luyện

A. ĐỀ SỐ 1

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

(Truyện ngắn Ga xép kể về cuộc đời ông Lãng. Ông sống trong một ngôi nhà có từ đời ông nội, chứng kiến sự mất tích bí ẩn của cha, sự chờ đợi mỏi mòn của mẹ, hành động hi sinh của em trai. 16 tuổi ông đi lính, rồi trở thành một nhà báo, cuối đời lại quay về sống trong ngôi nhà cũ với ám ảnh về linh hồn người cha và kí ức về mẹ. Ông Lãng có hai đứa con gái học giỏi, ngoan ngoãn, nhưng chúng khiến ông vô vọng vì đều lấy chồng ngoại quốc và theo chồng xa xứ. Mải chạy theo tình yêu, chúng đã không cảm nhận được nỗi cô đơn của cha khi phá cái nhà cũ, xây cho ông “một ngôi nhà sặc sỡ kiểu kì quặc” và “rải tiền lo cho ông”…) […] Ông đã đi quá nhiều. Có lẽ lỗi do ông đi nhiều. Ông đã dựa vào người em ruột, liệt

sĩ thời chống Pháp để lí lịch của ông qua được cái cửa khẩu khó nhất để hành nghề, để đi. Bao nhiêu những bâng khuâng ở phương trời xa lạ. Một lần, ở hành lang khách sạn gần vùng Si-bê-ri, một thiếu nữ làm quen với ông. Khi chia tay, nàng ghi cho ông cái địa chỉ bằng tiếng

Nga quê nàng ở thượng nguồn sông Amua, phần chảy qua nước Nga vĩ đại. Cho đến bây giờ ông vẫn cảm thấy chống chếnh khi nghĩ tới cái làng nào đấy ở bên sông Amua. Làm sao ông có thể đến được con sông ấy. Nó ở đâu, cái làng như hạt bụi trên vùng đất bao la? Sau chiến tranh, ông đi khắp nơi. Tận một hòn đảo xa tít ngoài Thái Bình Dương, ông cũng gặp người Việt. Trong một ngôi làng hẻo lánh gần rừng Amazôn, một người đàn ông đón xe của ông đi qua. Đôi mày lưỡi mác đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, đôi mắt nhỏ xếch như hai sợi chỉ trên gò má cao đỏ bầm. Một người Việt Nam chính hiệu ra đi từ những năm năm mười. Giọt nước mắt của con người lưu lạc đó nhỏ vào bàn tay ông, khi ông nắm tay anh ta. Anh ta quên cả tiếng Việt rồi. Đằng sau anh ta là một người đàn bà da đỏ có hai gò má như tạc bằng đất sét. Ông thương những con người đơn lẻ phải thích nghi với xứ người. Nhưng một lần tới New York, vô tình ông rẽ ngoặt sang phía khác khi thấy người Việt đi tới. Ông lúng túng không muốn đối thoại. Cái quả bom của chiến tranh nhiều phía đã nổ tung đất nước ông. Những con người tung tóe khắp hành tinh, mang theo những hận thù, để lại nhiều nghi kị.

Bất hạnh thay một xứ sở trong đó người ta chẳng được ở yên một chỗ. Sinh con đẻ cái trong một mái nhà, già đi và chết trong mái nhà ấy, với những đồ vật “hai mươi năm vẫn chạy tốt”.

Ông nói với mấy đứa con cái ý nghĩ về mái nhà, về vùng đất. Hai đứa đều cười. Thượng đế sinh ra con người trên mặt đất. Cũng cây cỏ ấy, cũng mặt trời ấy. Ai muốn sống ở đâu thì sống. Tổ quốc là Trái đất này. Cha già rồi, cha nghĩ những điều cạn hẹp. Chúng con như cái áo phông cái quần bò. Ở đâu có người ở đó sống tốt. Lúc này cả trái đất đều mặc áo phông quần bò. Biên giới sẽ chẳng còn ý nghĩa gì đâu cha.

Ông lặng thinh. Chúng nó có lí của chúng nó. Nhưng chúng nó đặt ông vào trào lưu áo phông quần bò của chúng, chúng thực sự tàn nhẫn. Chúng đang giết ông khi chúng phá cái nhà cũ của ông, chúng xách va-li ra đi khi cái chết đang vỗ cánh trên đầu ông.

Ông ngủ lơ mơ trong cái giường đệm với những chồng gối cao xa lạ trong ngôi nhà mới. Một cái bóng sượt qua mặt ông, có thực, không phải cảm giác. Và một tiếng rên đau đớn, ông nghe rõ.

Ông ngồi bật dậy bất giác kêu lên: Cha ơi! Nhưng tất cả lại tĩnh lặng.*

Dạo hai đứa con mới đi theo tình yêu, ông ở lại ngôi nhà một tầng cũ đến nỗi khi mưa lâu mái ngói bốc lên mùi rêu ẩm ướt. Ông đi chơi với mấy người bạn già, ông về cái nhà rêu mốc ông an tâm, ngồi uống nước trà, đọc những cuốn sách đã cũ. Ông chờ đợi những đứa con trở về. Những con người đã chết, chủ nhân đích thực của ngôi nhà cũng thấy yên ổn khi ẩn nấp sau những bức bàn, sau cái tủ gỗ từ đầu thế kỉ. Ông ở trong ngôi nhà, đêm đêm cảm thấy có nhiều đôi mắt âu yếm dõi theo. Ông sống với những linh hồn, và chờ đợi…

Cái thời ông mặc chiếc quần sooc nhỏ xíu, cởi trần cùng thằng em trèo lên cây sấu trước cửa rung cành cho sấu chín rụng lộp bộp trên mái ngói, là thời người ta thấy có lí khi sinh ra đời. Cái thời thanh bình ấy chỉ là khoảnh khức. Ông không hề thấy đợi mình thanh bình. Lúc nào cũng có cái gì đó đập vào tai: tiếng còi hụ bảo máy bay, tiếng bom xé màng tai, tiếng kêu gọi tản cư, kêu gọi lên đường, kêu gọi tẩy chay ai đó, tuyên dương ai đó, tiếng loa báo những chuyến tàu chạy ở nhà ga, tiếng mẹ ông giục: nhanh nhanh lên các con! Đời của một người Việt đầy ắp những âm thanh hối hải. Cuộc sống như chuyến tàu chợ, hành lí nhặt nhạnh tạm bợ, mặt mũi bơ phờ. Chuyến tàu đôi khi dừng ở ga xép cho người ta xuống xả hơi tí chút. Trong cái ga xép ấy là một thoáng bình yên như không có thực. Người ta làm một mái nhà, trồng một vụ rau, cưới vợ cho con, có một đứa cháu, có một chút kỉ niệm… Rồi lại bỏ lại tất cả, lên một con tàu chạy không có chỗ đỗ dừng cố định. Nhưng lạ thay, ông thường xuyên quên hẳn tiếng rin rít của bánh xe nghiến trên đường sắt số mệnh. Sự bình yên ít ỏi ở những ga xép sống mãnh liệt hơn sự hãi hùng.

(Trích Ga xép, Lê Minh Khuê, Truyện ngắn đặc sắc Việt Nam từ 1986 đến nay, Đoàn Ánh Dương tuyển chọn và giới thiệu, NXB Phụ nữ, 2013, tr.139 – 153)

Chú thích:

Lê Minh Khuê là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kì đổi mới. Truyện của bà thiên về cuộc sống đời thường, có khả năng bao quát và gợi ra nhiều suy ngẫm về nhân sinh, thế sự với nghệ thuật trần thuật đa dạng, sử dụng linh hoạt những điểm nhìn khác nhau…

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Chỉ ra 02 dấu hiệu của truyện ngắn hiện đại được thể hiện trong đoạn trích trên.

Câu 2: Anh/Chị hãy cho biết tên những “phương trời xa lạ” khiến nhân vật ông Lãng “bâng khuâng”.

Câu 3: Theo anh/ chị tại sao khi nghe quan điểm của các con về ngôi nhà và Tổ quốc, ông Lãng lại suy nghĩ: Chúng nó có lí của chúng nó. Nhưng chúng nó đặt ông vào trào lưu áo phông quần bò của chúng, chúng thực sự tàn nhẫn. Chúng đang giết ông khi chúng phá cái nhà cũ của ông, chúng xách va-li ra đi khi cái chết đang vỗ cánh trên đầu ông.

.............

Tải file về để xem thêm Đề cương ôn thi cuối học kì 2 Văn 10 Cánh diều

2. Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo

TRƯỜNG THPT ………..

BỘ MÔN: NGỮ VĂN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2025 – 2026

MÔN: NGỮ VĂN - KHỐI 10

A. PHẦN KIẾN THỨC

CHỦ ĐỀ 1: VĂN BẢN

1. Thơ

Văn bản

Tác giả

Thể loại

Nội dung

Nghệ thuật

Chiếc lá đầu tiên

Hoàng Nhuận Cầm

Thơ tự do

- Kí ức của tác giả về những kỉ niệm tuổi học trò (trường cũ, lớp học năm xưa, bạn bè, những trò nghịch ngợm. . . và cả tình yêu đầu tiên của mình)

- Tình cảm trong sáng, là nỗi bâng khuâng nhớ tiếc, là gắn bó thiết tha vừa ấm áp ngọt ngào, vừa chân thật hồn nhiên.

- Từ ngữ bộc lộ cảm xúc

- Câu đặc biệt

Tây Tiến

Quang Dũng

Thơ tự do

- Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc

- Vẻ đẹp người lính Tây Tiến

- Nỗi nhớ trong lòng tác giả

- Nghệ thuật trùng điệp, phối thanh trong thơ tự do

- Sử dụng biện pháp tu từ

Nắng mới

Lưu Trọng Lư

Thơ thất ngôn

Kí ức về mẹ gắn liền với sự biết ơn, tình yêu tha thiết

- Thể thơ thất ngôn

- Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết

- Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ

Xuân về

Nguyễn Bính

Thơ tự do

- Bức tranh xuân ấy còn có hình ảnh thiếu nữ với má hồng, mắt trong, duyên dáng đi hội chùa làng.
- Cảnh xuân, tình xuân được nhà thơ nói đến rất bình dị, mộc mạc, rất thân thuộc.

- Từ ngữ gợi tả gợi cảm

- Hình ảnh thơ chân thực, gần gũi

Đất nước

Nguyễn Đình Thi

Thơ tự do

- Bài thơ mở ra một không gian đất nước rộng lớn, tươi đẹp, nên thơ.

- Qua bài thơ tác giả bộc lộ tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, lòng tự hào về một đất nước quật cường vươn lên từ bom đạn.

- Hình ảnh thơ mới mẻ, sáng tạo.

- Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc.

- Sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật.

2. Truyện

Văn bản

Tác giả

Thể loại

Nội dung

Nghệ thuật

Dưới bóng hoàng lan

Thạch Lam

Truyện ngắn

- Vẻ đẹp yên bình ở làng quê

- Tâm hồn tinh tế của Thanh và tình yêu quê hương của nhân vật

- Truyện không có cốt truyện

- Đặc tả tâm lí nhân vật

- Văn xuôi giàu chất thơ

Đất rừng phương Nam

Đoàn Giỏi

Tiểu thuyết

- Miêu tả lại quá trình lấy mật ong của người dân rừng U Minh

- Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời rừng U Minh

- Nghệ thuật miêu tả đặc sặc

- Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật

Giang

Bảo Ninh

Truyện ngắn

Tình yêu quê hương, đất nước, tình người những đau khổ và hạnh phúc

- Giọng văn tự nhiên, nhẹ nhàng

- Lối kể chuyện chân thật, tỉ mỉ nhưng giàu cảm xúc

Buổi học cuối cùng

An-phông-xơ Đô-đê

Truyện ngắn

- Thể hiện lòng yêu nước của người dân Pháp khi đất nước có chiến tranh

- Phản ánh thực trạng đất nước Pháp thế kỉ XIX

- Nghệ thuật miêu tả nhân vật chân thực, phong phú

- Ngôn ngữ truyện gần gũi, chân thành

3. Văn nghị luận

Văn bản

Tác giả

Thể loại

Nội dung

Nghệ thuật

Bình Ngô đại cáo

Nguyễn Trãi

Cáo

- Tố cáo tội ác tày trời của giặc Minh

- Ca ngợi sức mạnh thần kì của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

- Nghệ thuật chính luận hùng hồn

- Cảm hứng trữ tình sâu sắc

Thư lại dụ Vương Thông

Nguyễn Trãi

Thư từ

Bức thư thể hiện niềm tin tất thắng và tinh thần yêu chuộng hoà bình của tác giả, cũng là của nhân dân ta

Lôgic giữa các đoạn thể hiện mạch lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục

Hịch tướng sĩ

Trần Quốc Tuấn

Hịch

- Cảm phục và tự hào về tài năng, đức độ của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn

- Hiểu được những bài học đạo lí quý báu mà ông để lại cho đời sau

- Áng văn chính luận xuất sắc

- Lập luận chặt chẽ, sắc bén.

- Lời văn giàu hình ảnh, nhạc điệu.

- Sử dụng biện pháp cường điệu, ẩn dụ

Nam quốc sơn hà - bài thơ Thần khẳng định chân lí độc lập của đất nước

Nguyễn Hữu Sơn

Văn nghị luận

- Đưa ra những ý kiến, cảm nhận của tác giả về bài thơ

- Khằng định lại tài năng của Lý Thường Kiệt

- Lập luận chặt chẽ, chi tiết

- Ngôn ngữ triết lý, sắc sảo

Tôi có một giấc mơ

Mác-tin Lu-thơ Kinh

Văn nghị luận

- Mục đích của văn bản khẳng định quyền bình đẳng của người da đen

- Lời kêu gọi sự đấu tranh giành quyền bình đẳng cho người da đen.

- Sử dụng những hình ảnh, câu văn có sức truyền cảm.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục

4. Thơ đường luật

Văn bản

Tác giả

Thể loại

Nội dung

Nghệ thuật

Bảo kính cảnh giới

Nguyễn Trãi

Thơ nôm Đường luật

- Bức tranh cảnh ngày hè tràn đầy sức sống, sinh động vừa giản dị, dân dã đời thường vừa tinh tế, gợi cảm.

- Tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống, tấm lòng vì dân, vì nước của tác giả.

- Cách ngắt nhịp đặc biệt.

- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.

- Ngôn ngữ giản dị mà tinh tế, biểu cảm

Dục Thúy Sơn

Nguyễn Trãi

Thơ Đường luật

- Ca ngơi cảnh sắc thần tiên núi Dục Thuý

- Nỗi cảm hoài của Ức Trai

- Tả cảnh ngụ tình

- Hình ảnh thơ mĩ lệ

- Hình ảnh ẩn dụ sử dụng sóng đôi nhau

CHỦ ĐỀ 2: THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT

1. Lỗi về trật tự từ trong câu và cách sửa

- Trật tự từ có ý nghĩa rất quan trọng trong câu câu tiéng Việt. Việc sắp xếp sai trật tự các thành phần trong câu có thể làm cho câu mơ hồ về nghĩa, sai lô-gich hoặc ko diễn đạt đúng nội dung mà người viết muốn thể hiện.

- Cách sửa:

+ Sắp xếp lại trật tự từ để diễn đạt đúng nội dung muốn thể hiện

+ Sắp xếp lại trật tự từ theo thứ tự trước sau của hành động

2. Lỗi dùng từ Hán Việt

- Dùng từ không đúng hình thức ngữ âm

- Dùng từ không đúng nghĩa

- Dùng từ không phù hợp với khả năng kết hợp

3. Biện pháp tu từ chêm xen

- Chêm xen là biện pháp chêm vào câu một từ, một cụm từ, một câu, thậm chí một chuỗi câu để bổ sung thông tin cần thiết hay bộc lộ cảm xúc. Thành phần chêm xen thường đứng sau dấu phẩy, dấu gạch ngang hoặc được đặt trong ngoặc đơn.

4. Biện pháp tu từ liệt kê

- Liệt kê là biện pháp sắp xếp nối tiếp các từ, các cụm từ cùng loại để diễn tả những khía cạnh khác nhau của thực tế, của tư tưởng, tình cảm đồng thời tạo ấn tượng mạnh về hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.

CHỦ ĐỀ 3: TẬP LÀM VĂN

1. Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm trữ tình

a. Mở bài:

- Giới thiệu tác phẩm trữ tình (tên tác phẩm, thể loại, tác giả,. . )

- Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá

b. Thân bài:

- Xác định chủ đề của tác phẩm trữ tình

- Phân tích, đánh giá chủ đề của tác phẩm

- Phân tích một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (phù hợp với đặc trưng của thơ trữ tình hoặc văn xuôi)

- Đánh giá tác dụng của những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm

- Thể hiện được những suy nghĩ, cảm nhận của người viết về tác phẩm

- Có lý lẽ thuyết phục và bằng chứng tin cậy lấy từ tác phẩm

c. Kết bài:

- Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật và nét độc đáo về chủ đề tác phẩm

- Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức tác phẩm.

2. Viết bài văn thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay quan niệm

a. Mở bài:

- Nêu rõ thói quen hay quan niệm cần thuyết phục người khác từ bỏ

- Nêu lí do hay mục đích viết bài luận

b. Thân bài:

- Trình bày tác hại của thói quen, quan niệm cần từ bỏ

- Trình bày lợi ích của việc bỏ thói quen/quan niệm

- Gợi ý giải pháp từ bỏ thói quen, quan niệm

- Làm sáng tỏ vấn đề bằng các lí lẽ, dẫn chứng

c. Kết bài:

- Khẳng định lại lợi ích của việc từ bỏ thói quen/quan niệm

- Thể hiện niềm tin vào sự cố gắng hay hi vọng ở sự thành công của người được thuyết phục

3. Viết bài luận về bản thân

a. Mở bài: Giới thiệu khái quát đặc điểm của bản thân sẽ triển khai trong bài viết

b. Thân bài:

- Nêu được mục đích của bài viết

- Phân tích được các đặc điểm tiêu biểu của bản thân

- Đưa ra được những bằng chứng thuyết phục để làm rõ từng đặc điểm của bản thân

- Đưa ra các thông tin xác thực, đáng tin cậy

c. Kết bài:

- Khẳng định lại đặc điểm tiêu biểu, nổi bật của bản thân

- Nêu thông điệp có ý nghĩa

B. PHẦN THỰC HÀNH – LUYỆN TẬP

ĐỀ SỐ 1

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

(Tóm tắt: Xing Nhã là con trai của Gia Rơ Khốt – một vị tù trưởng giàu có và danh tiếng ở Tây Nguyên. Do bị Gia Rơ Bú, một vị tù trưởng khác ganh ghét, gây chiến, kéo người sang cướp phá buôn làng, giết chết Gia Rơ Khốt và bắt vợ Gia Rơ Khốt là nàng H’ Bia về làm nô lệ. Xing Nhã, lúc ấy còn nhỏ, may mắn trốn thoát, được vợ chồng Xing Yuê đưa về nuôi. Lớn lên, khi biết chuyện, chàng đã không quản ngại gian khó, thử thách đi tìm Gia Rơ Bú để báo thù cho cha, cứu mẹ khỏi cảnh đoạ đày, đưa buôn làng trở lại cảnh yên vui ngày trước.)

XING NHÃ: Ơ giăng Gia Rơ Bú, đàn voi dữ của anh em ở đâu rồi, đưa ra đây ta thử sức chứ! Gia Rơ Bú đưa sáu con voi của sáu anh em ra trận đấu. Còn con voi của Pơ Rong Mưng, Gia

Rơ Bú để đưa ra cuối cùng.

Lần lượt sáu con voi đều bị Xing Nhã bẻ ngà, đâm thủng tim chết ngả nghiêng. Gia Rơ Bú càng tức giận, liền thả con voi đực của chàng Pơ Rong Mưng ra thử sức với chàng. Con voi này khi ra trận không sợ rụng đôi ngà vàng. Con voi đực được chủ cho đi trận liền hùng hục chạy tới, gió cuốn theo như bão, đầu đội đầy cành lá, mở lệch đôi ngà xông thẳng tới Xing Nhã. Xing Nhã lùi lại ba bước rồi nhảy múa đánh nhau với con voi đực dữ nhất của anh em Gia Rơ Bú. Nhưng chàng Xing Nhã quá mệt, nhảy lên cây cọ, con voi áp tới, chàng rơi vào đôi ngà của nó. Con voi đực liền đưa chàng về nhà cho chủ.

Trời hửng nắng, gió bão ngừng lại, bà Giỗn3 ra hiên phơi lúa nhìn xuống dưới trần thấy con voi đực của Pơ Rong Mưng đang đội chàng Xing Nhã về nhà Gia Rơ Bú, bà Giỗn về nhà báo cho ông Giỗn biết:

BÀ GIỖN: Ơ ông Giỗn, ông hãy nhìn xuống kia, cháu ta Xing Nhã đang bị con voi của Pơ Rong Mưng đội trên đôi ngà của nó mang đi khắp rừng thấp, đồi cao và sắp đến làng Gia Rơ Bú rồi!

Ông Giỗn đang ngủ say, vùng dậy lấy thuốc thiêng liệng xuống tiếp sức cho cháu. Xing Nhã chuyển mình, hai tay nắm chắc ngà voi, đu mình xuống đất. Hai chân dẫm chặt vòi nó, con voi bỗng dưng đứng im như cục đá. Chàng dằn mạnh đôi ngà của nó tuột khỏi miệng, con voi rống lên nghe rùng rợn núi đồi, ngã quỵ xuống. Chàng Xing Nhã giơ đôi ngà voi lên, chiếc ngà bên trái chàng ném cho nàng Hơ Bia Bơ Lao, chiếc ngà bên phải chàng vứt lên hiên nhà Gia Rơ Bú cho Gia Rơ Bú4.

GIA RƠ BÚ (hoảng hốt liền gọi các em): Ơ các em Xing Pú, Xing Pa, Xing Ala, Pơ Rong Pha, Pơ Rong Mtin, Pơ Rong Mưng! Con voi quý nhất của ta đã bị thằng chó Xing Nhã bẻ gãy đôi ngà rồi.

PƠ RONG MƯNG: Ơ anh Gia Rơ Bú chúng ta hãy chạy đi thôi.

GIA RƠ BÚ: Chẳng việc gì phải sợ con dê non ấy. Các em hãy cho khiên xoáy, luyện đường đao cho sắc, đánh diệt thằng bé con máu chưa khô trên đầu ấy.

Xing Ba múa khiên, cầm đao ra trận đánh nhau với chàng Xing Nhã. Nhưng mới chỉ chạy múa được ba đồi núi, Xing Ba đã bị Xing Nhã chém đứt nhượng chân và ngã quỵ. Đến lượt Xing Ala, Pơ Rong Pha, Pơ Rong Mtin đều bị Xing Nhã chém tại trận. Bây giờ đến lượt Gia Rơ Bú ra trận

Ông Giỗn và bà Giỗn là ông Trời và bà Trời, đứng về phía người anh hùng Xinh Nhã. 4 Người Ê đê quan niệm bên trái là siêng năng, bên phải là lười biếng, ghét bỏ.

đánh. Thấy Gia Rơ Bú, Xing Nhã hỏi:

XING NHÃ: Ơ Gia Rơ Bú, bây giờ ai chạy trước?

GIA RƠ BÚ: Hỡi con chim non mọc lông chưa kín cánh, mày hãy chạy trước đi, ta đuổi chém mày!

Xing Nhã quay khiên múa. Đất bụi bay mịt mù như mây trời tháng bảy. Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, băng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều, chim ó. Gia Rơ Bú nhìn theo, tối mày tối mặt, không đoán được đường đao của Xing Nhã chĩa về hướng nào.

GIA RƠ BÚ: Được, bây giờ tao không giết mày, tao sẽ tìm cách phá sạch làng mày! Té ra đứa nào cũng là đầu đen, máu đỏ5 cả sao? Tao sẽ về cắt cổ mẹ mày ở nhà thôi!

XING NHÃ (ngừng múa): Ơ Gia Rơ Bú! Ta đang đứng ở phía mặt trời mọc đây rồi. Bây giờ, ngươi múa đao đi, ta đuổi theo.

Gia Rơ Bú múa lung tung, múa loanh quanh như con gà mắc nước, như sao lạc đường đi. Đường đao chỉ đâm vào giữa trống không. Xing Nhã mới đi được một bước đã chém trúng ngay chân Gia Rơ Bú. Máu phọt lên trời, đỏ như chiếc dây mây lửa.

XING NHÃ: Ơ Gia Rơ Bú, máu gì chảy ở chân đấy? GIA RƠ BÚ: Máu con vắt ở núi Hơ mú cắn tao.

Gia Rơ Bú múa tiếp. Xing Nhã chém luôn cánh tay phải, đao và khiên của Gia Rơ Bú rơi xuống. XING NHÃ: Tại sao khiên đao ngươi rơi mất rồi?

GIA RƠ BÚ: Không phải! Đó là tiếng kêu của chiếc lục lạc trẻ con chơi, tiếng vù của con diều đói gió đấy.

Gia Rơ Bú cố sức múa nữa, nhưng lần này chưa kịp trở tay, chiếc khiên đã bị Xing Nhã đánh vỡ tung, rơi xuống đất.

[…]

Xing Nhã lên hiên nhà Gia Rơ Bú gọi dân làng.

XING NHÃ: Ơ chim nghiếc một ngàn, chim kơtrao một sườn đồi, hỡi tất cả dân làng đó đây. Các anh muốn về với chúng tôi hay ở lại đây?

DÂN LÀNG: Chúng tôi xin đi theo ông đấy. Cả đoàn người đông nghịt kéo về.

(Trích: Xing Nhã, sử thi Ê đê, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 40, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.221-225)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Xác định nhân vật chính trong văn bản?

Câu 2. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 3. Chỉ ra sự khác nhau của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu sau:

- Xing Nhã nhảy qua trái núi, lượn qua con suối, băng qua đầu đèo, nhanh hơn bầy chim diều, chim ó.

- Gia Rơ Bú múa lung tung, múa loanh quanh như con gà mắc nước, như sao lạc đường đi.

Câu 4. Nhận xét về một phẩm chất nổi bật của Xing Nhã được thể hiện trong văn bản. (

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một ước mơ của cộng đồng người Ê đê thời xưa mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và giải thích lí do.

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) làm rõ đặc điểm của nhân vật, không gian và thời gian thần thoại trong văn bản sau:

Ngày xưa Nam Tào, Bắc Đẩu nguyên là người trần, hai anh em ruột sinh đôi. Bà mẹ của họ đã già nua mới bắt đầu có thai, đến 69 tháng mới sinh ra hai cục thịt dính máu không đầu, không có tay chân. Bà đã tính vứt đi, nhưng sau lại lấy cất ở một xó nhà. Một trăm ngày sau tự nhiên hai cục thịt hóa ra hai người trai mạnh khoẻ hết sức thông minh, trí nhớ phi thường, có thể nhớ đủ những chuyện nhỏ nhặt xảy ra ở khắp nơi.

Trời thấy vậy mới tuyển hai người cho làm thần, để ghi nhớ những việc sống, chết của loài người, Nam Tào giữ sổ sinh, Bắc Đẩu giữ sổ tử luôn luôn ở bên cạnh Trời. Nam Tào ở bên tả tức là phường nam, Bắc đẩu ở bên hữu tức là phương Bắc.

Người ta vẫn cho rằng hai ngôi sao mang tên Nam Tào – Bắc Đẩu chính là chỗ ở của hai thần. Hiện còn hai cái đồi ở Phả Lại tại miền Bắc Việt, tục gọi là đồi Nam Tào và đồi Bắc Đẩu, tương truyền rằng đó chính là nơi mà bà mẹ hai thần sau khi đẻ ra hai cục thịt đã đặt ở đây toan quẳng xuống sông.

Hai thần Nam Tào và Bắc Đẩu ngoài việc trông nom loài người, từ lúc sinh cho đến khi chết, còn qui định số mạng giầu nghèo, sang hèn, lành dữ của mỗi người, và sau khi chết phải đầu thai kiếp gì. Số kiếp các loài vật cũng do hai thần ghi chép.

(Trích: Truyện thần thoại “Thần Tử, thần Sinh”, trích từ Thần Thoại Việt Nam chọn lọc – Thu Nga, Việt Dũng, Hoàng Minh tuyển chọn, biên soạn, NXB Thanh Niên, Tp.HCM, 2018)

Câu 2. (4 điểm)

Viết bài văn nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/ chị về vấn đề: sống không định hướng.

ĐỀ SỐ 2

I. Phần đọc hiểu (4 điểm)

Đọc ngữ liệu dưới đây rồi trả lời các câu hỏi:

"Người theo hương hoa mây mù giăng lối
Làn sương khói phôi phai đưa bước ai xa rồi
Đơn côi mình ta vấn vương hồi ức trong men say chiều mưa buồn
Ngăn giọt lệ ngừng khiến khóe mi sầu bi
Đường xưa nơi cố nhân từ giã biệt li, cánh hoa rụng rơi
Phận duyên mong manh rẽ lối trong mơ ngày tương phùng.

Tiếng khóc cuốn theo làn gió bay
Thuyền ai qua sông lỡ quên vớt ánh trăng tàn nơi này
Trống vắng bóng ai dần hao gầy.
Lòng ta xin nguyện khắc ghi trong tim tình nồng mê say
Mặc cho tóc mây vương lên đôi môi cay
Bâng khuâng mình ta lạc trôi giữa đời
Ta lạc trôi giữa trời".

(Trích lời bài hát Lạc Trôi – Sơn Tùng MTP)

Câu 1: (1 điểm): Em hãy xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong ngữ liệu trên?

Câu 2: (1 điểm): Hãy chỉ ra các từ Hán Việt được sử dụng trong 6 câu đầu?

Câu 3: (1 điểm): Từ lạc trôi trong ngữ liệu có nghĩa là gì? Vì sao tác giả lại cho rằng “Ta lạc trôi giữa đời/ ta lạc trôi giữa trời”?

Câu 4: (1 điểm) Qua ngữ liệu trên tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì cho người đọc?

II. Phần làm văn (6 điểm)

Phân tích hình tượng chủ tướng Trần Quốc Tuấn và lòng yêu nước của ông trong tác phẩm Hịch tướng sĩ.

.................

Tải file tài liệu để xem thêm đề cương ôn tập học kì 2 Ngữ văn 10

3. Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức

SỞ GD&ĐT ……..

TRƯỜNG THPT…………….

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ 2
NĂM HỌC 2025 - 2026
MÔN: NGỮ VĂN 10

BÀI 6: NGUYỄN TRÃI CÒN DÀNH ĐỂ CHỢ DÂN NÀY

A.LÝ THUYẾT

* Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội

a.Mở bài: Giới thiệu được vấn đề xã hội cần bàn luận, gây ấn tượng với người đọc

b.Thân bài:

- Nêu ý nghĩa của vấn đề đối với đời sống xã hội

- Trình bày được quan điểm của cá nhân về vấn đề nghị luận

- Trình bày những cơ sở về nhận thức và thực tiễn

- Nêu lí lẽ, phân tích bằng chứng đề chứng minh quan điểm và thuyết phục người đọc người nghe đồng tình.

c.Kết bài:

- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề xã hội vừa bàn luận

- Nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề đó.

B.LUYỆN ĐỀ

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc bài thơ sau:

Đề 1

NHÀN

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Một mai[1], một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai[2] vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu, đến cội cây[3], ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao[4] .

(Theo Ngữ văn 10, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 129)

[1] Mai: Dụng cụ đào đất, xắn đất.

[2] Dầu ai: Mặc cho ai. Dù ai có cách vui thú nào cũng mặc, tôi cứ thơ thẩn (giữa cuộc đời này).

[3] Cội cây: Gốc cây

[4] Hai câu 7 và 8 tác giả có ý dẫn điển Thuần Vu Phần uông rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoè An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: Phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

Thực hiện yêu cầu :

Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Phép đối xuất hiện trong những câu thơ nào?

Câu 3: Hai câu thơ sau cho ta hiểu điều gì về Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.

Câu 4: Cách nhìn của Nguyễn Bỉnh Khiêm về công danh, phú quý trong hai câu kết được thể hiện như thế nào?

Câu 5: Nhận xét về vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ.

II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm) Em hiểu quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ như thế nào? Hãy viết bài văn khoảng (150 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị)?

Câu 2: (4,0 điểm): Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận xã hội về cách ứng xử trên không gian mạng.

BÀI 7: QUYỀN NĂNG CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN

A. LÝ THUYẾT

* Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học

1. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

2.Thân bài:

- Khái quát về chủ đề của truyện

- Phân tích từng nhân vật tiêu biểu, mối liên hệ giữa các nhân vật

- Phân tích vai trò của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề của truyện

- Đánh giá chủ đề và ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề, rút ra ý nghĩa đối với đời sống

3.Kết bài

- Khẳng định lại ý nghĩa của vấn đề

B.LUYỆN ĐỀ

Đề 2

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản sau:

ANH BÉO VÀ ANH GẦY

Hai người bạn cũ gặp nhau trên sân ga. Một người béo, một người gầy. Anh béo vừa ăn ở nhà ga xong, người toát ra mùi rượu nho loại nặng. Còn anh gầy vừa mới xuống tàu,lỉnh kỉnh hành lý, người toát ra mùi thịt ướp, mùi bã cà phê. Sau lưng anh gầy là cô vợ gầy gò và một cậu con trai cao lêu nghêu.

- Porpphiri đấy ứ? - Anh béo kêu lên - Đúng là bạn thân mến của tôi! Ôi, biết bao lâu chúng mình không gặp nhau…

- Trời, Misa! Bạn từ thuở nhỏ của tôi! - Anh gầy sững sốt, mừng rỡ.

Hai người bạn ôm hôn nhau đến ba lần, mắt rưng rưng, chăm chú nhìn nhau.

- Mình quả thật không ngờ - anh gầy lên tiếng. Nào, cậu thẳng người, mình xem nào. Ôi, trông cậu vẫn đẹp trai, vẫn lịch thiệp như xưa. À, mà cậu bây giờ thế nào rồi? Giàu không? Lấy vợ chưa? Mình thì có vợ rồi…Đây, vợ mình đây! Còn đây là con trai mình. Này con, đây là bạn hồi học phổ thông với bố đấy!

Khi cậu con trai bỏ mũ ra chào, anh gầy nói tiếp:

- Bác là bạn cùng học với bố đấy!

- Anh gầy quay sang bạn

- À này, cậu còn nhớ cậu bị chúng nó trêu chọc thế nào không? Chúng nó gọi cậu là Gêrôxtơrát Ba vì cậu lấy thuốc lá châm cháy một quyển sách; còn mình thì chúng gọi Ephian Bốn vì mình hay mách...Dạo ấy mình trẻ con thật! - anh gầy lại nói với con trai

- Đừng sợ con! Con lại gần bác thêm chút nữa nào! Còn đây là vợ mình…

- Bây giờ anh sống ra sao? Làm ở đâu? Thành đạt rồi chớ?

- Mình cũng đi làm. Hai năm nay là nhân viên bậc 8, cũng được mề đay hạng năm. Vợ mình dạy nhạc. Mình còn làm thêm tẩu thuốc bằng gỗ. Tẩu đẹp lắm, mình bán 1 rúp 1 cái. Cũng cố sống tàm tạm cậu ạ. Trước đây mình làm ở cục, giờ mình được chuyển về đây, được thăng lên 1 bậc. Còn cậu sao rồi? Chắc là viên chức cỡ bậc 5 rồi chớ, phải không?- Không đâu, anh bạn ạ, cao hơn thế nữa. Mình là viên chức bậc 3 có hai mề đay của nhà nước.

Anh gầy bỗng tái mặt, ngây người ra, nhưng lát sau thì toét miệng cười, mắt sáng lên, toàn thân lại co rúm, so vai rụt cổ, khúm núm:

- Dạ, bẩm quan trên… tôi… tôi rất lấy làm hân hạnh ạ. Bạn… nghĩa là bạn từ nhỏ, thế rồi, bỗng nhiên bạn làm chức to thế…

Anh béo cau mặt:

- Cậu nói gì thế? Sao cậu lại nói cái giọng đó? Mình với cậu là bạn từ thuở nhỏ mà, việc gì cậu lại giở cái giọng quan chức thế?Anh gầy cười hì hì:

- Dạ, bẩm quan… Quan lớn dạy gì ạ? - anh gầy càng rúm ró - quan lớn chiếu cố cho như thế này, kẻ bần dân này đội ơn lắm lắm. Dạ, bẩm quan lớn, thưa đây là con trai tôi, Naphanain… và đây là vợ tôi, Luida.

Anh béo bực mình định quở trách thêm. Tuy nhiên khi nhận thấy trên mặt anh gầy toát ra vẻ nô lệ kính cẩn đến mức làm cho anh béo vừa thất vọng vừa buồn nôn. Anh béo vội ngoảnh mặt đi và đưa tay chào từ biệt anh gầy.

Anh gầy sung sướng nắm mấy ngón tay anh béo, cúi gập người xuống chào, cười hì hì. Cả vợ và con anh gầy cũng ngạc nhiên đầy thú vị.

(Tuyển tập truyện ngắn của Sê – khốp)

Cây 1: Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?

Câu 2: Tại sao anh gầy “bỗng tái mặt, ngây người ra, nhưng lát sau thì toét miệng cười, mắt sáng lên, toàn thân lại co rúm, so vai rụt cổ, khúm núm”?

Câu 3: Chủ đề của truyện ngắn trên là gì?

Câu 4: Sự khác biệt giữa anh béo và anh gầy được thể hiện qua những chi tiết nào?

Câu 5: Chi tiết “Mấy thứ vali, hộp túi của anh ta cũng co rúm lại, nhăn nhó” gợi tả điều gì? Nêu ý nghĩa của chi tiết đó.

II.PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm): Viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 150 chữ) về sự tử tế.

Câu 2(4,0 điểm): Dựa vào nội dung của văn bản trên, em hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá hình tượng hai nhân vật “anh béo” và “anh gầy” trong tác phẩm Anh béo và anh gầy của Sê – khốp.

.................

Tải file về để xem thêm Đề cương ôn tập cuối học kì 2 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức

Chia sẻ bởi: 👨 Lê Thị tuyết Mai

Chọn file cần tải:

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo