Hỗ trợ tư vấn
Tư vấn - Giải đáp - Hỗ trợ đặt tài liệu
Mua gói Pro để tải file trên Download.vn (không bao gồm tài liệu cao cấp) và trải nghiệm website không quảng cáo
Tìm hiểu thêm »Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm truyện (Những đặc điểm trong cách kể của tác giả) mang đến 5 bài văn mẫu cực hay, ấn tượng nhất, giúp các em học sinh có thêm nhiều tư liệu tham khảo để hiểu rõ hơn về nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm văn học.
Qua mỗi bài viết, các em có thể tìm hiểu cách tác giả lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn, xây dựng tình huống, tổ chức cốt truyện, sử dụng chi tiết và ngôn ngữ kể chuyện để tạo nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm.
Đề bài: Chọn một tác phẩm truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) để lại cho bạn nhiều ấn tượng về cách kể chuyện.
a. Mở bài
Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm.
b. Thân bài
- Giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác, thể loại, nội dung chính và vị trí của tác phẩm nếu cần thiết.
- Phân tích chủ đề, nội dung của tác phầm
- Phân tích những đặc sắc nghệ thuật
- Khẳng định những giá trị nổi bật của tác phẩm:
c. Kết bài
Khẳng định lại giá trị và sức hấp dẫn của tác phẩm.
Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một trong những tác phẩm chân thực nhất, ấn tượng nhất mà em từng đọc. Truyện không chỉ thu hút người đọc bởi tính phản ánh chân thực hiện thực của xã hội mà nó còn hấp dẫn ở lối tự sự đầy sáng tạo, hấp dẫn của tác giả khi miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Chí Phèo.
Cách kể chuyện ở đây không chỉ đơn thuần là cách kể về diễn biến của câu chuyện về những sự kiện, sự việc diễn ra trong đó. Ở đây, Nam Cao đã vận dụng cách kể chuyện độc đáo không chỉ trong các sự kiện mà còn trong cả diễn biến tâm lí của nhân vật, đặc biệt là diễn biến tâm lí của nhân vật Chí Phèo - từ sự biến đổi sau khi đi tù về cho đến quá trình hoàn lương trở thành người lương thiện.
Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã sử dụng cách kể chuyện độc đáo của mình để miêu tả một Chí Phèo say rượu, vừa đi vừa chửi. Điểm độc đáo ở đây là trong lời chửi, không chỉ là lời miêu tả của tác giả mà trong đó, có cả lời của chính nhân vật - những lời độc thoại nội tâm. Cách sử dụng những lời độc thoại nội tâm như vậy giúp người đọc có thể dễ dàng lắm bắt được diễn biến tâm lý nhân vật và thể hiện sự khai thác sự kiện trên cái nhìn đa chiều của tác giả. Tiếp đến, ông kể về Chí Phèo, là một đứa trẻ mồ côi lương thiện, bị bá kiến cho đi tù và ra tù, hắn trở thành con quỷ của làng Vũ Đại. Hắn trở thành một kẻ chuyên làm nghề rạch mặt, ăn vạ, ngày ngày say khướt và trở thành tay sai của bá kiến.
Đỉnh cao của nghệ thuật kể chuyện độc đáo của Nam Cao phải kể đến ở chỗ khi ông phân tích quá trình hoàn lương của Chí Phèo. Hắn gặp Thị Nở - người đàn bà xấu xí cho hắn biết cảm giác thế nào là tình yêu, là niềm hạnh phúc. Tỉnh dậy sau đến gặp thị Nở, nhận thức của Chí Phèo dần thay đổi. Hắn đã hết say và lắng nghe thấy những thanh âm trong trẻo của cuộc sống mà trước đây hắn chưa từng nghe thấy. Hắn thấy vui rồi lại buồn, rồi lại nghĩ về tương lai, mơ ước về cuộc sống hạnh phúc, giản dị và bình yên. Chí Phèo đang cảm thấy hạnh phúc, chìm đắm trong tình yêu và sự quan tâm của thị Nở. Sau khi nghe lời khuyên của bà cô, thị quay ra đòi chia tay hắn, Chí Phèo muốn níu kéo niềm hạnh phúc nhỏ nhoi này nhưng hắn nhận ra, hắn chẳng có gì để níu kéo. Hắn muốn tìm lại kẻ đầu sỏ, kẻ khiến hắn trở lên như vậy - bá kiến. Đến đây, Nam Cao đã lột tả hết tài năng miêu tả diễn biến tâm lý của mình, ông khoan dung với số phận của hắn, tin tưởng vào sự lương thiện của con người khi miêu tả niềm vui, sự hạnh phúc nhen nhóm của Chí Phèo.
Bởi vậy, sức hấp dẫn của Chí Phèo không chỉ nằm ở cốt truyện giản dị, thật tâm về người nông dân, nông thôn Việt Nam trong những năm chiến tranh, mà nó còn nằm ở sự độc đáo trong cách kể chuyện, miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật một cách chỉn chu, đa dạng trên nhiều phương diện khác nhau để soi chiếu được rõ nhất tâm lí của mỗi nhân vật.
Vì vậy, truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao xứng đáng là một trong những tác phẩm hay nhất, kinh điển nhất về nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của một nhà văn luôn phản ánh cuộc sống đời thực của những người bất hạnh trong xã hội. Nhưng qua đó, ông cũng khẳng định sự lương thiện luôn ẩn chứa trong họ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Mẫu 1
Kim Lân là một nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với hơi thở của vùng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: Làng, Vợ Nhặt,...Tác phẩm Vợ nhặt được trích từ tập truyện “Con chó xấu xí” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất qua tác phẩm này.
Tác phẩm “Vợ nhặt” trích trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Truyện được viết ngay sau cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư”. Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành “Vợ nhặt”. Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện, anh Tràng nghèo khổ, xấu xí, ế vợ. Giữa nạn đói năm Ất Dậu, chỉ một câu nói bông đùa, bốn bát bánh đúc, hai hào dầu mà Tràng có được vợ. Nói đúng hơn là có vợ theo mà không tốn tiền cưới hỏi gì. Sau đêm tân hôn của đôi vợ chồng son, cuộc sống gia đình Tràng bắt đầu nhen theo ngọn lửa niềm tin. Bà cụ Tứ - mẹ Tràng thì rạng rỡ hẳn lên. Người vợ nhặt thì hiền hậu đúng mực khác với vẻ chao chát ngoài chợ. Kết thúc tác phẩm là chi tiết lá cờ đỏ cùng đoàn người đi phá thóc Nhật.
Tìm hiểu vào truyện ta mới thấy được sự tài tình trong nghệ thuật tả thực. Đó là một cốt truyện, một tình huống éo le khó có thể thấy trong đời sống hiện đại. Câu chuyện xoay quanh chàng trai xấu xí nghèo khổ, là người dân ngụ cư nay đây mai đó có phẩm chất hiền lành, tốt bụng, sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp. Anh sống với mẹ già, gia cảnh nghèo túng. Lấy vợ trong thời điểm nạn đói hoành hành, thêm một miệng ăn là thêm một bữa đói. Đã vậy, còn không phải là nên duyên do tình yêu đôi lứa mà chỉ là đúng nghĩa “nhặt” được một cô vợ mang về nhà cùng chung sống. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính Tràng cũng hiểu được nếu trong hoàn cảnh bình thường, cuộc sống yên bình, người người nhà nhà no đủ thì bản thân Tràng rất khó có khả năng lấy vợ.
Ngoài những câu văn thật đến trần trụi thì Kim Lân cũng theo chủ nghĩa nhân đạo, tôn vinh vẻ đẹp của tâm hồn con người. Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Ngay cả đến tên gọi cũng là tên gọi của một loại đồ vặt dùng trong nghề mộc. Với vài nét bút phác họa đơn giản, Tràng hiện lên có phần giống với những thằng đần, thằng ngốc trong truyện cổ tích. Cái lưng thì được nhà văn tạo thành “lưng gấu”, cái mặt thì ấn tượng bởi “hai con mắt nhỏ tí gà gà, quai hàm bạnh”. Tính cách thì phần trẻ con nhiều hơn. Vì thế chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Nhưng Kim Lân không có ý định viết truyện cổ tích về thằng đần thằng gốc mà ông đang kể lại một sự thật, sự thật đau lòng về cái đói cái nghèo.
Nhưng cùng là miêu tả hình tượng nhân vật xấu xí như Chí Phèo nhưng Tràng lại không bị biến chất, luôn có niềm tin vào cuộc sống, tin vào tương lai. Hắn luôn sống chân thật với bản thân mình, không cố thay đổi nó để phù hợp với hoàn cảnh. So với người trưởng thành hắn là kẻ ngốc nhưng trong thế giới quan của bản thân, hắn luôn vui vẻ dù thực tế cuộc sống có nghiệt ngã ra sao. Khi ngày ngày thức dậy, bắt đầu ngày mới Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khi mà cái đói cướp luôn tiếng cười vui vẻ hồn nhiên của lũ trẻ trong làng thì Tràng luôn là viên thuốc giúp bọn trẻ trở lại với độ tuổi của mình, chúng vây quanh anh to nhỏ nói cười. Dù bản thân cũng khó khăn, cơm không đủ nó nhưng hắn vẫn tự chịu trách nhiệm với lời nói của bản thân mà mang người đàn bà mới gặp hai lần về làm vợ. Hắn vui vẻ mời người phụ nữ đã cùng phụ hắn đẩy xe một lần, mời người đang mờ mắt vì đói dù bụng hắn cũng chả no cùng lúc “bốn bát bánh đúc”. Câu “Nói đùa chứ về với tớ thì chỉ ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi ai ngờ Thị về thật. Là câu nói đùa, câu nói không suy nghĩ liều lĩnh nhất trong đời hắn. Vì khi mà Thị theo về thật lúc đầu hắn lo hơn mừng, lo vì nghèo càng thêm nghèo, lo khi có vợ mà không chắc mình có thể cho cô no ấm. Nhưng ẩn sau trong câu nói tưởng vô tư không suy tính đến tương lai đấy chính là khát vọng về cuộc sống tươi sáng hơn, cuộc sống có đầy đủ người thân, có hạnh phúc trọn vẹn sau này.
Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết “mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bồng” Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất là thời điểm đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “chậc kệ!”. Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vui vén cho cái hạnh phúc của mình. Tràng dường như thay đổi sau một đêm, trưởng thành hơn, chín chắn hơn trong cả nhận thức lẫn hành động. Hai con người cùng khổ nương tựa vào nhau, cùng nhau cố gắng cho tương lai. Điều đó thể hiện rõ nhất ở hình ảnh ngôi nhà sau một đêm có người phụ nữ sinh sống. Ngôi nhà vốn chật hẹp, tối tăm, bẩn thỉu nay sạch sẽ gọn gàng hơn, giống nơi có người ở hơn. Nơi đó Tràng lại thấy có mẹ, có vợ, có những người quan trọng và thân thiết nhất. Hắn thấy nhiều hơn về tương lai tươi sáng, thấy thương yêu và cần có trách nhiệm hơn với gia đình.
Mẫu 2
Kim Lân là nhà văn có sở trường viết về cuộc sống và tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông, được xây dựng trên nền hiện thực đau thương của nạn đói năm 1945.
Sức hấp dẫn của Vợ nhặt được tạo nên từ tình huống truyện độc đáo. Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng – một người đàn ông nghèo, thô kệch, làm nghề kéo xe bò thuê – lại “nhặt” được vợ. Chỉ vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc, một người phụ nữ xa lạ đã theo Tràng về làm vợ. Hạnh phúc vốn là chuyện trọng đại của đời người nhưng trong hoàn cảnh ấy lại diễn ra nhanh chóng và rẻ rúng đến xót xa. Tình huống “nhặt vợ” vì thế vừa tạo nên sự bất ngờ, vừa phơi bày hiện thực khắc nghiệt của nạn đói. Đồng thời, đây cũng là tình huống để các nhân vật bộc lộ những phẩm chất đẹp đẽ nhất.
Kim Lân đã tái hiện chân thực bức tranh nạn đói năm 1945 bằng những chi tiết đầy ám ảnh. Xóm ngụ cư hiện lên tiêu điều, xác xơ; người chết đói nằm la liệt; những khuôn mặt xanh xám, hốc hác vì đói xuất hiện khắp nơi. Không khí chết chóc bao trùm cuộc sống. Cái đói không chỉ đe dọa sự sống mà còn đẩy con người vào hoàn cảnh khốn cùng, khiến một người phụ nữ phải theo không một người đàn ông chỉ vì vài bát bánh đúc. Qua đó, tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc, cho thấy thảm cảnh của người dân nghèo trước Cách mạng.
Trong bóng tối của nạn đói, Kim Lân vẫn phát hiện ánh sáng của tình người. Tràng vốn là người nghèo khổ nhưng khi có vợ, anh thay đổi rõ rệt. Tràng cảm thấy mình trưởng thành hơn, biết lo lắng cho gia đình và có ý thức vun vén tổ ấm. Người vợ nhặt, từ một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn vì đói, khi trở thành vợ Tràng lại trở nên dịu dàng, ý tứ và biết chăm lo cho gia đình. Sự thay đổi ấy cho thấy mái ấm và tình yêu thương có khả năng đánh thức những phẩm chất tốt đẹp trong con người.
Đặc biệt, bà cụ Tứ là hiện thân cảm động của tình mẫu tử và lòng nhân hậu. Khi biết con trai có vợ, bà vừa ngạc nhiên, vừa thương con, thương con dâu và thương cho số phận của chính mình. Dù hiểu rằng các con đang bước vào một cuộc sống đầy đói khát, bà vẫn dang tay đón nhận người con dâu mới. Bà cố gắng nói về tương lai, gieo vào lòng các con niềm hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám tuy nghẹn đắng nhưng lại chứa đựng biết bao tình thương. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cùng cực, các nhân vật vẫn cố gắng tạo dựng một mái ấm, bởi con người không chỉ sống nhờ thức ăn mà còn sống nhờ tình yêu thương và hi vọng.
Bên cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo, Vợ nhặt còn thành công ở nghệ thuật xây dựng tình huống, nhân vật và miêu tả tâm lí. Ngôn ngữ truyện mộc mạc, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân lao động. Những chi tiết như nồi cháo cám hay hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ ở cuối truyện đều giàu sức gợi. Đặc biệt, hình ảnh lá cờ đỏ đã mở ra một hướng vận động mới: từ bóng tối của nạn đói, con người bắt đầu hướng tới ánh sáng của cách mạng và một tương lai tốt đẹp hơn.
Vợ nhặt là câu chuyện về cái đói nhưng sâu xa hơn là câu chuyện về con người trong cái đói. Tác phẩm có sức lay động mạnh mẽ, nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, trân trọng cuộc sống và luôn giữ niềm tin vào ngày mai.
Đời thừa (1943) là một truyện ngắn nổi bật của Nam Cao trong mảng đề tài về người trí thức. Tác phẩm đánh dấu sự chín muồi trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn và thường được xem như một tuyên ngôn của Nam Cao về văn học. Không chỉ có giá trị về mặt tư tưởng, Đời thừa còn đặc sắc về nghệ thuật tự sự. Đây cũng là phương diện chưa được chú ý nhiều trong những phân tích, bình giảng về truyện ngắn này.
Đời thừa có cấu trúc điển hình của một truyện ngắn. Toàn bộ câu chuyện chỉ diễn ra từ ngày hôm trước đến sáng hôm sau với sự kiện chính là trận say rượu của nhà văn Hộ, nhân vật trung tâm. Câu chuyện cũng không được thuật lại theo trình tự thời gian. Truyện mở đầu bằng đoạn văn mà người kể chuyện miêu tả cận cảnh khoảnh khắc Hộ đang chăm chú đọc sách, qua đó có thể thấy thế giới sách là niềm say mê lớn nhất của nhân vật. Rồi từ đó, mạch truyện hồi cố những chi tiết trong quá khứ của nhân vật, người kể chuyện cung cấp cho người đọc những chi tiết để hình dung về con người của Hộ, nhất là những suy tư của nhân vật. Cách tổ chức mạch truyện phá vỡ trật tự sự kiện như vậy chính là một đặc trưng nổi bật của nghệ thuật tự sự hiện đại so với truyền thống.
Đời thừa là một truyện ngắn ít hành động không có những kịch tính dồn dập, thay vào đó, truyện tập trung miêu tả dòng suy tưởng và những xung đột trong thế giới tinh thần của nhân vật. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, trần thuật theo điểm nhìn bên trong gắn với ý thức của nhân vật hơn là từ điểm nhìn bên ngoài. Hình thức trần thuật hướng nội này phù hợp với việc khắc hoạ nhân vật như là một con người có đời sống tư tưởng. Hộ không khỏi làm người đọc liên hệ đến Điền, nhân vật nhà văn trong truyện ngắn Giăng sáng được Nam Cao sáng tác trước đó. Nhưng nếu như Điền vốn từng có những ngộ nhận trong việc xác định giá trị mình muốn theo đuổi trong sự nghiệp và đời sống thì ngay từ đầu, Hộ đã được miêu tả như một con người có những lí tưởng đáng trân trọng. Hộ đặt ra nguyên tắc sống tình thương coi kẻ mạnh phải là người “nâng người khác trên đôi vai của mình” và bản thân Hộ, bằng hành động giang tay giúp đỡ Từ khi cô bị phụ bạc, đã hiện thực hóa nguyên tắc sống ấy. Trong nghề nghiệp, Hộ nuôi hoài bão văn chương và nhân vật hiểu rõ văn chương chân chính đòi hỏi những phẩm chất rất cao như thế nào. Nhưng vì cuộc sống khốn quẫn, những giá trị đáng ra phải cộng hưởng với nhau lại nảy sinh xung đột.
Trên thực tế, nhân vật của Nam Cao đã lựa chọn lẽ sống tình thương thay cho khát vọng sự nghiệp. Hộ chấp nhận gác lại tham vọng văn chương, chấp nhận viết văn để kiếm tiền - điều mà trước đó anh vốn không nghĩ đến. Thứ văn chương dùng để mưu sinh ấy khiến Hộ đành phải dễ dãi với ngòi bút của mình, viết nhanh, viết nông không thể cầu toàn với chữ nghĩa như trước kia nữa, nhờ đó, mới có thể nuôi sống được gia đình. Sự lựa chọn này có thể trấn an nhân vật về mặt đạo đức nhưng hoàn toàn không đem đến sự thanh thản trong nội tâm của Hộ. Bởi khát vọng văn chương là thứ khiến Hộ có thể khẳng định ý nghĩa đời sống của bản thân như một cá nhân, điều mà bổn phận đạo lí không thể khỏa lấp trọn vẹn. Đấy chính là lí do khiến Hộ luôn dằn vặt trước trang viết của mình. Có một khía cạnh đáng chú ý ở đây: thực ra xã hội không phê phán Hộ vì anh viết dở, viết nhật; thứ văn chương mà Hộ tự thấy tầm thường ấy vẫn được in báo, vẫn được trả nhuận bút. Nhưng chính sự tự ý thức của Hộ đã khiến nhân vật không thể yên tâm với sự dễ dãi của xã hội với các giá trị tầm thường. Anh thấy mình không phải đang tạm gác lại khát vọng sự nghiệp mà là mình đang “hỏng”, đang phản bội chính những lí tưởng mà mình đã xác định. Trong nội tâm của Hộ, thường xuyên có một phiên toà, nơi chính anh tự kết án chính mình bằng những ngôn từ nặng nề nhất như “khốn nạn”, “cẩu thả”, “bất lương”, “đê tiện”. Nương theo dòng suy nghĩ của nhân vật, người kể chuyện như giúp người đọc “quan sát cận cảnh” xung đột nội tâm thường trực ở Hộ. Hình thức lời trần thuật nửa trực tiếp với các từ được chú ý lặp lại, các câu hỏi mang tính chất tự vấn đóng vai trò quan trọng trong việc diễn tả sự tự đay nghiến cũng như nỗi thất vọng của nhân vật về chính mình: “Khốn nạn! Khốn nạn Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì hắn chính là thằng khốn nạn! [...] Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những cái vô vị, nhạt phèo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương. Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có... Hắn nghĩ thế và buồn lắm, buồn lắm! Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì mà nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt”.
Nhưng bi kịch ở Hộ không phải chỉ nằm ở chỗ sự nghiệp rơi vào bế tắc. Sự xuống dốc trên con đường văn chương của Hộ kéo theo sự tha hoá về nhân cách của nhân vật. Hộ biến nỗi bất mãn về bản thân thành những hành động bạo hành mà vợ con của mình – những người trước đó anh từng coi là đối tượng để thực hành lẽ sống tình thương - phải hứng chịu. Không chỉ phản bội lại lí tưởng văn chương Hộ còn tự giẫm đạp lên lí tưởng sống của mình. Trải nghiệm của Hộ sau trận say rượu – sự kiện duy nhất được miêu tả trong truyện ngắn này – không phải là trải nghiệm lần đầu của nhân vật. Nhớ lại những gì mình đã làm trong cơn say, Hộ xấu hổ và ăn năn, lại sẵn sàng tự kết án mình bằng ngôn từ nặng nề nhất có thể trước mặt Từ: “Anh... anh... chỉ là... một thằng khốn nạn!..”. Và Từ, hẳn đây cũng không phải là lần đầu tiên và duy nhất, từ chối vai trò là quan tòa khi nghe lời xưng tội của Hộ. Ngay lập tức, cô đặt mình vào vai trò của người bào chữa cho Hộ khi nói Hộ “chỉ là một người khổ sở”. Và rồi cuối cùng cô tự kết án mình mới chính là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Hộ: “Chính vì em mà anh khổ...”. Tất cả những gì Từ có thể làm chỉ là chịu tội thay. Kẻ xưng tội thì không được thừa nhận tội; kẻ được quyền kết tội thì không chỉ từ chối quyền đó mà còn cả thẩm quyền tha thứ. Câu chuyện kết thúc nhưng những vấn đề trong đời sống của cả Từ và Hộ vẫn cứ ngổn ngang, hầu như không thể giải quyết.
Người kể chuyện ở đây giữ một khoảng cách nhất định với nhân vật. Khoảng cách ấy được thể hiện rõ nhất qua giọng điệu trần thuật. Người kể chuyện có những đồng cảm nhất định với cuộc đấu tranh nội tâm của Hộ, ghi nhận sự chân thành trong thái độ ăn năn, biết lỗi của nhân vật sau trận say. Nhưng mặt khác, người kể chuyện cũng thể hiện thái độ nghiêm khắc đối với Hộ qua cách dùng đại từ nhân xưng “hắn” để gọi nhân vật, qua giọng điệu kể hàm chứa sự mỉa
mai ngầm đối với cơn cao hứng của Hộ khi tuyên ngôn về văn chương giữa cuộc say, và nhất là qua cách miêu tả tiếng khóc của nhân vật. Khoảnh khắc Hộ bật khóc như “nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh” chính là khoảnh khắc nhân vật đối diện với sự thật của chính mình, rằng Hộ không phải là “kẻ mạnh” như anh từng nghĩ, rằng thay vì nâng đỡ Từ, một người yếu đuối như anh từng tâm niệm thì hoá ra chính anh lại đang giày vò Từ, bắt Từ chịu thêm những tổn thương. Và liệu rằng những triết lí sống tưởng như đẹp đẽ mà Hộ muốn vươn đến đã thoát ra khỏi chủ nghĩa vị kỉ của một cá nhân vốn được mặc định là “kẻ mạnh”? Có thể nói, người kể chuyện đã thay mặt Nam Cao để làm cái việc mà ông quan tâm nhất khi cầm bút. Đó là “đau đáu nhìn vào cái nhân cách”, là việc “săn đuổi chính mình đầy ráo riết” và cũng là “săn đuổi cái nhân cách con người ta nói chung” (chữ dùng của Nguyễn Minh Châu).
Đời thừa là một truyện ngắn giàu tính phê phán. Ngoài phê phán việc con người, nhất là người trí thức, có thể đánh mất mình như thế nào, truyện ngắn của Nam Cao còn muốn phê phán những thiết chế xã hội đã đẩy các giá trị lớn vào tình thế xung đột với nhau, nơi cái tầm thường được biện bạch bằng lí do hoàn cảnh, trong khi đó những lí tưởng, khát vọng lớn của con người lại bị hi sinh, bị tha hoá bởi những thứ tưởng như nhỏ nhặt nhất trong đời thường, khiến sự sống của con người trở nên mất ý nghĩa. Sự phê phán của Nam Cao là biểu hiện của một “tấm lòng thương đời nhất” và một “con mắt nhìn đời ác nhất”), nói như Nguyễn Minh Châu. Tất cả điều này gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc nhờ một nghệ thuật tự sự có chiều sâu, giàu sức thuyết phục.
Kim Lân là nhà văn có sở trường viết về cuộc sống và tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Truyện ngắn Làng là một tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân, qua đó nhà văn đã khắc họa thành công tình yêu làng, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trước hết, sức hấp dẫn của Làng được tạo nên từ tình huống truyện độc đáo. Ông Hai vốn là một người nông dân luôn tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Khi phải đi tản cư, ông thường khoe về làng, từ những con đường, căn nhà đến tinh thần kháng chiến của người dân quê hương. Thế nhưng, ông bất ngờ nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Tin dữ ấy khiến ông vô cùng đau đớn, tủi hổ và bàng hoàng. Chính tình huống éo le này đã đặt nhân vật vào một thử thách đặc biệt, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm của ông Hai.
Tình yêu làng của ông Hai được thể hiện trước hết qua niềm tự hào sâu sắc. Với ông, làng Chợ Dầu không chỉ là nơi mình sinh ra mà còn là một phần máu thịt. Ông luôn nhớ về làng, quan tâm đến những thay đổi của quê hương và say sưa kể chuyện làng cho mọi người nghe. Tình yêu ấy rất chân thành, mộc mạc, thể hiện đặc điểm tâm lí quen thuộc của người nông dân gắn bó sâu nặng với quê hương.
Tuy nhiên, khi nghe tin làng theo giặc, tình yêu làng của ông Hai bị đặt trước một thử thách nghiệt ngã. Ông “cúi gằm mặt mà đi”, không dám gặp ai vì xấu hổ. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường, đau đớn và lo lắng. Ông nghĩ đến việc những người dân làng mình có thể đã phản bội kháng chiến. Tâm trạng nhân vật được nhà văn miêu tả rất tinh tế, từ bàng hoàng, đau khổ đến lo sợ và tuyệt vọng. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu làng sâu sắc của ông Hai.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh ấy, tình yêu làng đã được đặt bên cạnh lòng yêu nước. Ông Hai từng nghĩ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Câu nói cho thấy sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của nhân vật. Nếu trước đây tình yêu làng có vị trí đặc biệt trong tâm hồn ông thì giờ đây, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến đã trở thành tình cảm lớn lao, bao trùm. Ông sẵn sàng đặt lợi ích của đất nước lên trên tình yêu dành cho quê hương. Đây chính là vẻ đẹp đáng quý của người nông dân Việt Nam trong thời đại mới.
Khi tin làng được cải chính, ông Hai như được sống lại. Ông vui sướng đến mức đi khắp nơi khoe rằng làng mình không theo giặc. Ông còn khoe cả việc nhà mình bị đốt cháy. Chi tiết tưởng như nghịch lí ấy lại thể hiện sâu sắc niềm vui và lòng tự hào của ông: sự mất mát về tài sản không thể so sánh với niềm hạnh phúc khi danh dự của quê hương và lòng trung thành với kháng chiến được khẳng định. Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã làm nổi bật sự hòa quyện giữa tình yêu quê hương và tình yêu đất nước.
Bên cạnh nội dung sâu sắc, Làng còn thành công về nghệ thuật. Kim Lân đã xây dựng một tình huống truyện tự nhiên nhưng giàu kịch tính, tạo điều kiện để nhân vật bộc lộ rõ tâm trạng và phẩm chất. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế giúp người đọc cảm nhận được từng cung bậc cảm xúc của ông Hai. Ngôn ngữ truyện gần gũi, đậm chất khẩu ngữ, phù hợp với lời ăn tiếng nói của người nông dân. Đặc biệt, việc lựa chọn những chi tiết giàu sức gợi đã góp phần làm cho hình tượng ông Hai trở nên chân thực và sống động.
Qua truyện ngắn Làng, Kim Lân không chỉ kể câu chuyện về một người nông dân yêu quê hương mà còn khẳng định một tình cảm lớn lao: khi đất nước đứng trước thử thách, tình yêu quê hương cần được đặt trong tình yêu đất nước và trách nhiệm với cộng đồng.
Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây: