Hỗ trợ tư vấn
Tư vấn - Giải đáp - Hỗ trợ đặt tài liệu
Mua gói Pro để tải file trên Download.vn (không bao gồm tài liệu cao cấp) và trải nghiệm website không quảng cáo
Tìm hiểu thêm »Đề tài Sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng hình ảnh và video AI trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 nhằm phát triển vốn từ và kỹ năng quan sát cho học sinh gồm 22 trang word, giúp quý thầy cô tham khảo, dễ dàng hoàn thiện bản SKKN cho riêng mình thật chỉn chu.
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi căn bản bức tranh giáo dục toàn cầu. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, trí tuệ nhân tạo cung cấp tài nguyên phong phú, thông qua các học liệu trực quan như: hình ảnh và video sinh động, giúp tăng tỷ lệ học sinh diễn đạt tốt và tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn so với cách dạy truyền thống. Vậy sau đây là mẫu SKKN Ứng dụng hình ảnh và video AI trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 nhằm phát triển vốn từ và kỹ năng quan sát cho học sinh. Mời các bạn cùng theo dõi.
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến ngành Giáo dục và Đào tạo phường ........., tỉnh ...........
Tôi (Chúng tôi) ghi thông tin dưới đây:
| TT | Họ và tên | Ngày, tháng, năm sinh | Nơi công tác | Chức danh | Trình độ chuyên môn | Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến |
| 1 | ||||||
| 2 |
1. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: XÂY DỰNG ỨNG DỤNG
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (Nếu là người khác thì ghi rõ Họ và tên)
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công nghệ thông tin (Giáo dục (Bộ môn), Điện tử, viễn thông, tự động hóa, công nghệ thông tin, Nông lâm ngư nghiệp và môi trường, dịch vụ (ngân hàng, du lịch, y tế...); Khác...)
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 10/10/2025
5. Mô tả bản chất của sáng kiến
5.1. Thực trạng của giải pháp đã biết
- Đặc điểm tình hình lớp học
Lớp 1/1 do tôi phụ trách có sĩ số 25 học sinh, trong đó có 17 học sinh người Kinh và 8 học sinh dân tộc S'tiêng. Đây là lớp học có sự đa dạng về nền tảng ngôn ngữ và môi trường giao tiếp. Phần lớn học sinh người Kinh đã được làm quen với tiếng Việt chuẩn thông qua môi trường gia đình và lớp mẫu giáo. Trong khi đó, nhiều học sinh dân tộc S'tiêng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày, việc tiếp xúc với tiếng Việt phổ thông còn hạn chế, đặc biệt ở kỹ năng diễn đạt bằng câu hoàn chỉnh.
Kết quả khảo sát ban đầu:
| Mức độ | Số học sinh | Tỷ lệ |
| Mô tả tốt (≥3 chi tiết rõ ràng) | 5 | 20% |
| Mô tả còn hạn chế (1–2 chi tiết) | 9 | 36% |
| Gặp khó khăn khi diễn đạt | 11 | 44% |
Thực trạng kỹ năng mô tả của học sinh lớp 1/1 trước khi áp dụng giải pháp: (Kèm biểu đồ cột thể hiện: Mô tả tốt: 5 (20%); Mô tả còn hạn chế: 9 (36%); Gặp khó khăn khi diễn đạt: 11 (44%)). Tổng số học sinh: 25.
Qua khảo sát đầu năm học (tháng 9), tôi tiến hành đánh giá năng lực quan sát và vốn từ của học sinh thông qua hai nhiệm vụ đơn giản: yêu cầu học sinh quan sát một bức tranh quen thuộc trong môn Tự nhiên và Xã hội và kể tên sự vật nhìn thấy; tiếp theo, yêu cầu các em mô tả bức tranh bằng 1–2 câu. Kết quả cho thấy chỉ có 5/25 học sinh (20%) có thể mô tả từ ba chi tiết trở lên một cách rõ ràng; 9/25 học sinh (36%) chỉ nêu được 1–2 chi tiết rời rạc; và có tới 11/25 học sinh (44%) gặp khó khăn khi diễn đạt, thường trả lời ngắn, lặp lại câu hỏi hoặc im lặng.
Đối với 8 học sinh dân tộc S'tiêng, tình hình còn rõ nét hơn: 6/8 em chỉ gọi tên sự vật mà chưa biết ghép thành câu hoàn chỉnh; 5/8 em phát âm chưa rõ; 4/8 em có biểu hiện rụt rè, ngại phát biểu trước lớp. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành vốn từ và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt.
Những con số trên cho thấy, nếu không có giải pháp hỗ trợ phù hợp, khoảng cách về năng lực quan sát và diễn đạt giữa các nhóm học sinh sẽ ngày càng rõ rệt. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định mục tiêu giáo dục tiểu học là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh thông qua hoạt động học tập tích cực, trải nghiệm và thực hành [1].
Thực trạng phương pháp dạy học đang áp dụng Trước khi thực hiện sáng kiến, việc giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp tôi chủ yếu được tổ chức theo phương pháp truyền thống: sử dụng tranh minh họa trong sách giáo khoa, đặt câu hỏi – gợi mở – nhận xét, tổ chức thảo luận nhóm ngắn và cho học sinh trả lời theo mẫu. Hình thức này giúp đảm bảo tiến độ chương trình và bám sát nội dung bài học, tuy nhiên qua thực tế triển khai, tôi nhận thấy hiệu quả phát triển năng lực quan sát và vốn từ chưa cao.
Hình ảnh trong sách giáo khoa tuy rõ ràng nhưng mang tính tĩnh và giới hạn về góc nhìn. Học sinh thường chỉ chú ý đến nhân vật trung tâm mà ít quan sát các chi tiết phụ xung quanh. Ví dụ, khi dạy bài "Giữ gìn cơ thể sạch sẽ", nhiều em chỉ nhận ra "bạn nhỏ đang rửa tay" nhưng không nhận xét được bạn có sử dụng xà phòng hay không, rửa tay ở đâu, thực hiện đủ bước hay chưa. Điều này cho thấy các em quan sát ở mức độ bề mặt, chưa có định hướng.
Bên cạnh đó, phần lớn câu trả lời của học sinh còn mang tính lặp lại, thiếu mở rộng. Các em thường nói theo mẫu ngắn gọn như: "Bạn đang rửa tay", "Bạn đánh răng", mà chưa biết thêm trạng thái, địa điểm, cảm xúc hay mục đích của hành động. Đối với học sinh dân tộc S'tiêng, hạn chế về vốn từ khiến các em càng khó tham gia tích cực vào hoạt động trao đổi, từ đó dẫn đến tâm lý thụ động.
Thực tế trên cho thấy phương pháp hiện hành tuy đáp ứng yêu cầu cơ bản nhưng chưa đủ mạnh để kích thích tư duy quan sát sâu và phát triển ngôn ngữ phong phú cho học sinh lớp 1.
Thực trạng kỹ năng quan sát và diễn đạt của học sinh Kỹ năng quan sát của học sinh lớp 1 nhìn chung còn mang tính cảm tính. Các em thường nhìn thấy gì thì nói nấy, chưa biết quan sát theo trình tự hoặc theo yêu cầu định hướng. Nhiều em chưa biết so sánh hình ảnh đúng – sai, chưa phát hiện được chi tiết nhỏ nhưng có ý nghĩa.
Qua đánh giá thực tế đầu năm học, tôi ghi nhận chỉ có 6/25 học sinh biết mô tả có trình tự (từ trên xuống, từ trái sang phải hoặc theo diễn biến hành động). Có 14/25 học sinh chỉ nêu các chi tiết rời rạc, thiếu liên kết. 5/25 học sinh gần như không diễn đạt được bằng câu hoàn chỉnh, dù có thể nhận biết hình ảnh bằng mắt.
Điều này phản ánh việc rèn luyện kỹ năng quan sát trong các tiết học trước đó chưa được thực hiện một cách hệ thống và có định hướng cụ thể.
Những khó khăn đặt ra trong thực tiễn giảng dạy Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy ba khó khăn lớn. Thứ nhất, việc thiếu hình ảnh sinh động, linh hoạt khiến khả năng kích thích hứng thú quan sát của học sinh còn hạn chế. Thứ hai, học sinh dân tộc S'tiêng cần nhiều cơ hội tiếp xúc với hình ảnh trực quan đa dạng để hỗ trợ phát triển vốn từ tiếng Việt. Thứ ba, nếu giáo viên chỉ sử dụng tranh tĩnh trong sách, rất khó tạo ra các tình huống đối lập, so sánh hoặc mở rộng theo mục tiêu riêng của từng tiết học.
Những khó khăn này đặt ra yêu cầu phải có một giải pháp mới, giúp tăng cường trực quan hóa nội dung, tạo cơ hội cho học sinh quan sát ở nhiều góc độ và hỗ trợ phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên, phù hợp với đặc điểm lớp học đa dân tộc.
5.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
5.2.1. Giải pháp 1: Thiết kế hình ảnh AI trong dạy học Tự nhiên Xã hội lớp 1 phát triển kỹ năng quan sát cho học sinh
a) Mục đích của giải pháp Xuất phát từ thực trạng đã phân tích ở mục 5.1, tôi nhận thấy vấn đề cốt lõi cần giải quyết không chỉ là làm cho tiết học sinh động hơn mà quan trọng hơn là phát triển có hệ thống vốn từ và kỹ năng quan sát cho học sinh lớp 1, đặc biệt là học sinh dân tộc S'tiêng còn hạn chế về tiếng Việt.
............
Tải file tài liệu để xem thêm SKKN Ứng dụng hình ảnh và video AI trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1 nhằm phát triển vốn từ và kỹ năng quan sát cho học sinh.
Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây: