Một số qui tắc viết chính tả trong Tiếng Việt Luật chính tả trong tiếng Việt

Một số qui tắc viết chính tả trong Tiếng Việt giúp các bạn tham khảo, biết cách phân biệt để viết đúng chính tả. Để viết đúng chính tả Tiếng Việt không hề đơn giản, nếu không nắm vững các quy tắc viết chính tả.

Đặc biệt, với học sinh lớp 1 đang giai đoạn tập đọc, tập viết thì việc dạy các bé đọc và viết chuẩn chính tả Tiếng Việt là một điều rất cần thiết. Vậy mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây để tránh viết sai chính tả, nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bên cạnh đó, có thể tham khảo thêm quy tắc phân biệt dấu hỏi, dấu ngã trong Tiếng Việt.

1. Một số qui tắc viết chính tả trong tiếng Việt

1. Qui tắc viết hoa cơ bản

- Đầu câu, danh từ riêng.

Ví dụ: Bác Hồ, Tổ quốc, Mặt Trời,…

- Viết hoa khi dẫn lời nói trực tiếp.

Ví dụ: Thanh gọi mẹ ríu rít: - Mẹ ơi !

- Sau dấu hai chấm mà kiểu câu liệt kê thì không viết hoa.

Ví dụ: Xoài có nhiều loại: xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca,…

- Viết hoa tên người, tên địa danh nước ngoài: phiên âm, dịch ra tiếng Việt.

+ Trường hợp phiên âm qua âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên địa lí Việt Nam.

Ví dụ: Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Khổng Tử, Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Triều Tiên …

+ Trường hợp phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp, viết sát theo cách đọc): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.

Ví dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen, Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, Mát-xcơ-va, I-ta-li-a, An-giê-ri, …

1.2 Qui tắc viết i/y

Có 3 trường hợp viết y:

+ Bắt buộc viết y đứng sau âm đệm như: huy, tuy, thúy,…

+ Đứng sau nguyên âm ngắn a như: ây

+ Đứng trước ê khi chữ đó không có âm đầu như: yêu, yết, yếm

- Trường hợp bắt buộc viết i:

+ Sau các nguyên âm dài, trong đó các vần kết thúc bằng phụ âm mà không có âm đệm.

Ví dụ: kim, tim, tin, …

+ Trước a khi chữ đó không có âm đệm như: lía, kia, chia,…

- Trường hợp viết i/y đều đúng trong trường hợp có âm tiết mở (khuyến khích học sinh viết i: Châu Mĩ/Châu Mỹ, Địa lí/Địa lý, Bác sĩ/Bác sỹ,…)

- Phải viết i hoặc y bắt buộc do phân biệt nghĩa.

Ví dụ: bàn tay - lỗ tai; ngày mai - may mắn; khoái chí - cái khoáy âm dương.

1.3 Quy tắc viết l/n

- Chữ n không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uâ, uy) trừ hai âm tiết Hán Việt: noãn, noa. Do đó nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn l để viết, không chọn n.

Ví dụ: chói loà, loá mắt, loảng xoảng, loà xoà, loạng choạng, loan báo, loăng quăng, loằng ngoằng, loắt choắt, quần loe, lập loè, loá sáng, luân lí, kỉ luật, luẩn quẩn, lưu luyến, luyên thuyên, tuý luý, ...

- Trong cấu tạo từ láy:

+ Láy âm: Cả ln đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp từ láy âm thì ta có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm l hoặc n.

Ví dụ: no nê, nợ nần, nao núng, nôn nao, nảy nở, nung nấu,... lo lắng, lầm lì, lanh lảnh, lung linh, long lanh, len lỏi, lâm li,...

+ Láy vần: trong các từ láy vần có tiếng có n hoặc l thì tiếng thứ nhất bao giờ cũng có âm đầu l, tiếng thứ hai có âm đầu n khi tiếng thứ nhất có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu và tiếng thứ hai có âm đầu l khi tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi. Do đó nếu gặp từ láy vần thì tiếng thứ nhất ta phải chọn âm đầu l còn nếu tiếng thứ nhất có âm đầu gi hoặc khuyết âm đầu thì tiếng thứ hai ta chọn n, tiếng thứ nhất có âm đầu khác gi thì tiếng thứ hai ta chọn l. (Trừ hai trường hợp đặc biệt: khúm núm, khệ nệ).

Ví dụ: la cà, lờ đờ, lò dò, lù đù, lơ mơ, lan man, lõm bõm, lạch bạch, ... gian nan, gieo neo, giãy nảy, áy náy, ảo não, ăn năn, ... cheo leo, chói lọi, lông bông, khét nẹt, khoác lác, ...

- Một số từ có thể thay thế âm đầu nh bằng âm đầu l.

Ví dụ: nhời - lời, nhẽ - lẽ, nhỡ - lỡ, nhát - lát, nhăm nhe - lăm le, nhấp nhánh - lấp lánh, nhố nhăng - lố lăng, ...

- Một số từ có thể thay âm đầu đ, c bằng âm đầu n.

Ví dụ: đấy - nấy, cạo - nạo, kích – ních, cạy - nạy, ...

- Những từ dùng chỉ vị trí hoặc chỉ sự ẩn nấp thường viết bằng n.

Ví dụ: này, nọ, ni, nớ, nào, nấp, náu, né, nép, ...

1.4 Quy tắc viết ch/tr

- Chữ tr không đứng đầu các tiếng có vần âm đệm (oa, oă, oe, uê). Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn ch để viết, không chọn tr.

Ví dụ: sáng choang, áo choàng, choáng váng, chập choạng, ... loắt choắt, chích choè, chí chéo, chuệch choạc, chuếnh choáng, ...

- Những từ Hán Việt có thanh nặng hoặc thanh huyền thường có âm đầu tr. Do đó nếu gặp các dạng này ta chọn tr để viết, không chọn ch.

Ví dụ: trọng, trường, trạng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu, trù bị, ...

- Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên các hoạt động, chỉ quan hệ giữa những người trong gia đình và những từ mang ý nghĩa phủ định thường có âm đầu ch.

Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo, ... chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ, ... cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chẳng, chưa, chớ, chả, ...

- Một số từ có thể thay âm đầu tr bằng âm đầu gi.

Ví dụ: trồng - giồng, trầu - giầu, trời - giời, trăng - giăng, ...

- Trong cấu tạo từ láy:

+ Láy âm: Cả trch đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp láy âm đầu thì ta có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu ch hoặc tr.

Ví dụ: chông chênh, chen chúc, chăm chỉ, chân chất, chập chững, ... tròn trĩnh, trùng trục, trăn trở, tròng trành, trơ tráo, trập trùng, ...

+ Láy vần: Trong các từ láy vần chỉ có tiếng có âm đầu ch (trừ một số trường hợp đặc biệt: trét lẹt, trót lọt, trụi lủi)

Ví dụ: chơi vơi, lừng chừng, chàng màng, chênh vênh, chán ngán, chót vót...

1.5 Quy tắc viết s/x

- Chữ s không đứng đầu các tiếng có âm đệm (oa, oă, oe, uê, uâ) ngoại trừ các trường hợp: soát, soạt, soạng, soạn, suất.

Do đó nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn x để viết không chọn s.

Ví dụ: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng, xoăn, xoe, xuân, ...

- Trong cấu tạo từ láy:

+ Láy âm: Cả sx đều có từ láy âm. Do đó nếu gặp từ láy âm đầu thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu s hoặc x.

Ví dụ: sắc sảo, suy suyển, sờ soạng, sục sạo, sung sướng, sỗ sành, ... xao xuyến, xôn xao, xàm xỡ, xì xào, xí xoá, xấp xỉ, xoèn xoẹt, ...

+ Láy vần: Tiếng có x thường láy với tiếng có l, trừ một số trường hợp: lụp sụp, đồ sộ, sáng láng. Do đó nếu gặp láy vần thì ta chọn tiếng chứa âm đầu x.

Ví dụ: liểng xiểng, loăn xoăn, loà xoà, lộn xộn, lao xao, xoi mói, xích mích, xa lạ, ...

- Một số từ ghép có một tiếng có âm đầu s và có một số tiếng có âm đầu x:

Ví dụ: xứ sở, sản xuất, xuất sắc, xác suất, xổ số, soi xét, ...

1.6 Quy tắc viết r/d/gi

- Chữ rgi không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy). Do đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi.

Ví dụ: kinh doanh, dọa nạt, doãng ra, hậu duệ, duy nhất, duyệt binh, ...

- Trong các từ Hán Việt:

+ Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d.

Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu, ...

+ Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi.

Ví dụ: giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác, ...

+ Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có âm đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.

Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dương liễu, dư dật, ung dung, ...

- Trong cấu tạo từ láy:

+ Láy âm: Cả gi, r, d đều có từ láy âm. Nếu gặp từ láy âm thì có thể chọn cả hai tiếng cùng có âm đầu gi, r hoặc d.

Ví dụ: giành giật, giãy giụa, giục giã, già giặn, giấm giúi, ... dai dẳng, dào dạt, dằng dặc, dập dìu, dãi dầu, ... ríu rít, ra rả, rì rào, réo rắt, run rẩy, rung ring, rưng rức, rùng rợn, rón rén, rừng rực, rạng rỡ, rực rỡ, ...

+ Láy vần: Tiếng có d thường láy với tiếng có l, tiếng có r thường láy với tiếng có b hoặc c, tiếng có gi thường láy với tiếng có n.

Ví dụ: lim dim, lò dò, lai dai, ... bứt rứt, cập rập, bịn rịn, co ro, cò rò, bủn rủn, ... gian nan, gieo neo, giãy nảy.

- Một số từ láy có các biến thể khác nhau: rào rạt - dào dạt, rập rờn - giập giờn, dân dấn - rân rấn, dun dủi - giun giủi, dấm dứt - rấm rứt, dở dói - giở giói, gióng giả - dóng dả, réo rắt - giéo giắt. rậm rật - giậm giật, ...

- Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d, và gi. Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và tiếng có âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r và âm đầu gi.

Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận dữ, gian dối, giận dỗi, giao duyên, ...

1.7 Quy tắc viết c/k/q

+ Giúp cho học sinh nắm được các qui luật:

+ q luôn bao giờ cũng đi với âm đệm u để thành qu

+ c luôn đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.

+ k luôn đứng trước các nguyên âm: i, e, ê.

1.8 Quy tắc viết g/gh/ng

  • Gh, ngh: Viết trước các nguyên âm e, ê, i, iê (ia). Ví dụ: nghỉ ngơi, lắng nghe, suy nghĩ...
  • G, ng: Viết trước các nguyên âm khác còn lại. Ví dụ: ngày tháng, nghi ngờ, ngọt ngào…

2. Quy tắc đánh dấu thanh

1. Cấu tạo của tiếng

Mỗi tiếng thường có ba bộ phận: âm đầu, vần và thanh (thanh điệu). Trong đó, vần được chia thành 3 bộ phận: âm đệm, âm chính, âm cuối.

Thí dụ:

+ Tiếng "bầu" có âm đầu "b", vần "âu", thanh "huyền". Vần "âu" thì "â" là âm chính, "u" là âm cuối.

+ Tiếng "chuyện" có âm đầu "ch", vần "uyên", thanh "nặng". Vần "uyên" thì "u" là âm đệm, "yê" là âm chính, "n" là âm cuối.

Tiếng nào cũng phải có vần và thanh. Có tiếng không có âm đầu.

Ví dụ: ẵm, im, yên, ai.

Tiếng Việt gồm 6 thanh: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Thanh được thể hiện trên chữ viết là dấu thanh (còn gọi là dấu).

- Dấu thanh được đặt trên hoặc dưới kí tự ghi âm chính.

Ví dụ: là, lạ, toà, tạo.

Để hiểu cách ĐẶT DẤU THANH cần biết cách ghi nguyên âm đôi. Trong tiếng Việt có 3 nguyên âm đôi. Chúng đều có nhiều cách ghi:

- Nguyên âm đôi /ua/ được ghi 2 cách:

+ Khi có âm cuối ghi là uô, thí dụ: muốn

+ Khi không có âm cuối ghi là ua, thí dụ: múa

- Nguyên âm đôi /ưa/ được ghi 2 cách:

+ Khi có âm cuối ghi là ươ, thí dụ: mượn

+ Khi không có âm cuối ghi là ưa, thí dụ: cửa

- Nguyên âm đôi /ia/ được ghi 4 cách:

+ Khi có âm cuối + không có âm đệm, ghi là iê, thí dụ: tiến

+ Khi có âm cuối + có âm đệm, ghi là yê, thí dụ: tuyến

+ Khi không có âm cuối + không có âm đệm, ghi là ia, thí dụ: mía

+ Khi không âm cuối + có âm đệm, ghi là ya, thí dụ: khuya

2. Quy tắc đặt dấu thanh

- Dấu thanh thường đặt ở trên hoặc dưới âm chính (VD: loá mắt, khoẻ khoắn,…)

- Ở các nguyên âm có dấu mũ thì các dấu thanh được viết hơi cao lệch về bên phải của dấu mũ (VD: trồng nấm, biển khơi, cố gắng,…)

- Trong tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi. (VD: cây mía, lựa chọn, múa hát,…)

- Trong tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở con chữ thứ hai của nguyên âm đôi (VD: ước muốn, chai rượu, sợi miến,…).

3. Cách dùng dấu câu

Cách sử dụng dấu chấm [.]: dấu chấm dùng ở cuối câu tường thuật, câu miêu tả. Ví dụ: Hôm nay tôi đi học. Trường học cách nhà tôi khoảng 10km.

Cách sử dụng dấu phẩy [,]: dấu phẩy được dùng với nhiều chức năng như ngắt các vế trong câu ghép, chú thích, khởi ý,... Ví dụ: Tôi được 10 điểm, bạn tôi thì được 8 điểm

Cách sử dụng dấu chấm hỏi [?]: dấu chấm hỏi có công dụng là kết thúc một câu hỏi, nghi vấn. Ví dụ: Họ tên của bạn là gì?

Cách sử dụng dấu chấm than [!]: dấu chấm than dùng khi kết thúc câu cầu khiến hoặc câu cảm thán (để tỏ thái độ ngạc nhiên, châm biếm)

Cách sử dụng dấu chấm phẩy [;]: cách dùng phổ biến là để phân biệt các vế của câu ghép phức tạp. Ngoài ra, sử dụng dấu chấm phẩy còn để phân biệt trong trường hợp liệt kê phức tạp.

Cách sử dụng dấu chấm lửng [...]: thường được sử dụng với các chức năng liệt kê, diễn tả cảm xúc ngập ngừng

Cách sử dụng dấu hai chấm [:]: thường dùng để liệt kê, để thông báo sắp có thông tin được trích dẫn hoặc được dùng trước lời thuật lại trực tiếp hoặc gián tiếp.

Cách sử dụng dấu gạch ngang [-]: thường dùng để làm ranh giới giữa phần chú thích và phần còn lại của câu, đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật

Cách sử dụng dấu ngoặc đơn ( ): thường được sử dụng với chức năng để chú thích

Cách sử dụng dấu ngoặc kép “ “: thường được dùng để trích dẫn nguyên văn, ranh giới với lời nói được thuật lại trực tiếp

4. Luật chính tả trong Công nghệ giáo dục lớp 1

I. Luật viết hoa:

1. Tiếng đầu câu: Tiếng đầu câu phải viết hoa.

2. Tên riêng :

2.1. Tên riêng Tiếng Việt:

- Viết hoa tất cả các tiếng không có gạch nối. Ví dụ: Vạn Xuân, Việt Nam.

- Một số trường hợp tên riêng địa lí được cấu tạo bởi 1 danh từ chung (sông, núi, hồ, đảo, đèo) kết hợp với một danh từ riêng (thường có một tiếng) có kết cấu chặt chẽ đã thành đơn vị hành chính thì viết hoa tất cả các tiếng. VD: Sông Cầu, Sông Thao, Hồ Gươm, Cửa Lò,…

- Ngoài các trường hợp trên ra thì chỉ viết hoa tiếng là danh từ riêng. VD: sông Hương, núi Ngự, cầu Thê Húc, …

2.2. Tên riêng tiếng nước ngoài:

- Trường hợp các tên riêng nước ngoài phiên âm qua âm Hán Việt thì viết hoa như viết tên riêng Việt Nam. VD: Hàn Quốc, Bồ Đào Nha,…

- Trường hợp các tên riêng nước ngoài không phiên âm qua âm Hán – Việt thì chỉ viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các âm tiết.

VD: Cam-pu-chia, Xinh-ga-po,….

3. Viết hoa để tỏ sự tôn trọng : Ví dụ: Bà Trưng, Bà Triệu…

II. Luật ghi tiếng nước ngoài:

Các trường hợp không phiên âm qua âm Hán – Việt thì nghe thế nào viết thế ấy (như Tiếng Việt). Giữa các tiếng (trong một từ) phải có gạch nối.

Ví dụ: Pa-nô, pi-a-nô.

III. Luật ghi dấu thanh:

-Viết dấu thanh ở âm chính của vần. Ví dụ: bà, bá, loá, quỳnh, bào, mùi…

-Ở tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi.

Ví dụ: mía, múa…

-Ở tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.

Ví dụ: miến, buồn…

IV. Luật ghi một số âm đầu:

1. Luật e, ê, i:

– Âm /c/ (cờ) trước e, ê, i phải viết bằng chữ k (gọi là ca)

– Âm /g/ (gờ) trước e, ê, i phải viết bằng chữ gh (gọi là gờ kép)

– Âm /ng/ (ngờ) trước e, ê, i phải viết bằng chữ ngh (gọi là ngờ kép)

2. Luật ghi âm /c/ (cờ) trước âm đệm.

Âm /c/ (cờ) đứng trước âm đệm phải viết bằng chữ q (cu) và âm đệm viết bằng chữ u. VD: qua, quyên,….

3. Luật ghi chữ “gì”

Ở đây có hai chữ i đi liền nhau. Khi viết phải bỏ một chữ i (ở chữ gi), thành gì.

V. Luật ghi một số âm chính:

1. Quy tắc chính tả khi viết âm i:

– Tiếng chỉ có một âm i thì có tiếng viết bằng i (i ngắn) có tiếng viết bằng y (y dài):

+ Viết i nếu đó là từ Thuần Việt (ì ầm)

+ Viết y nếu đó là từ Hán Việt (y tá)

– Tiếng có âm đầu (và âm /i/) thì một số tiếng có thể viết y, hoặc viết i đều được. Nhưng hiện nay quy định chung viết là i : thi sĩ

– Khi có âm đệm đứng trước, âm i phải viết là y (y dài): huy, quy (không được viết là qui)

2. Cách ghi nguyên âm đôi:

Nguyên âm đôi /iê/ (đọc là ia) có 4 cách viết:

+ Không có âm cuối: viết là ia. Ví dụ: mía.

+ Có âm cuối: viết là iê. Ví dụ: biển.

+ Có âm đệm, không có âm cuối thì viết là: ya. Ví dụ: khuya.

+ Có âm đệm, có âm cuối, hoặc không có âm đầu thì viết là: yê. Ví dụ: chuyên, tuyết… yên, yểng…

Nguyên âm đôi /uô/ (đọc là ua) có hai cách viết:

+ Không có âm cuối: viết là ua. Ví dụ: cua.

+ Có âm cuối: viết là uô. Ví dụ: suối.

Nguyên âm đôi /ươ/ (đọc là ưa) có 2 cách viết:

+ Không có âm cuối: viết là ưa. Ví dụ: cưa.

+ Có âm cuối: viết là ươ. Ví dụ: lươn.

Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Lương
Mời bạn đánh giá!
  • Lượt tải: 4.941
  • Lượt xem: 89.709
  • Dung lượng: 225,6 KB
1 Bình luận
Sắp xếp theo
  • Vy Tường
    Vy Tường + Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có âm đầu a và viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a. Vậy chữ (màu da) có âm đầu là d có vầng âm đầu là a thì sao ạ ?
    Thích Phản hồi 15/12/20