Đề cương ôn thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn lớp 8 năm 2025 - 2026 (Sách mới) Ôn tập Văn giữa kì 2 lớp 8 (Cấu trúc mới, đáp án + 3 Sách)

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 năm 2025 - 2026 là tà liệu vô cùng hữu ích, gồm 3 sách hệ thống kiến thức cần nắm kèm theo đề minh họa có đáp án giải chi tiết kèm theo.

Đề cương ôn tập giữa học kì 2 Ngữ văn 8  giúp các em học sinh hệ thống hóa kiến thức đã học, định hướng những nội dung trọng tâm cần ôn luyện, từ đó giúp tránh học lan man, không hiệu quả. Thông qua đề cương ôn tập giữa kì 1 Văn 8 các em học sinh có thể củng cố hiểu biết về các tác phẩm văn học, kiến thức tiếng Việt và kĩ năng làm văn, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy và trình bày bài viết. Nhờ có đề cương ôn tập, việc chuẩn bị cho bài kiểm tra giữa học kì trở nên chủ động, khoa học và đạt kết quả tốt hơn. Ngoài ra các bạn xem thêm đề cương ôn tập giữa học kì 2 Toán 8, đề cương ôn tập giữa kì 2 môn Khoa học tự nhiên 8.

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 năm 2026 (Có đáp án)

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 Kết nối tri thức năm 2026

TRƯỜNG THCS ………….

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA KÌ 2

NĂM HỌC 2025 – 2026

MÔN: NGỮ VĂN 8

Ôn tập kiến thức đã học từ tuần 19 đến tuần 24 (SGK Ngữ văn 8 tập 2)

I. Kiến thức trọng tâm:

1. Văn bản:

+ Truyện

+ Thơ Đường luật

* Yêu cầu nắm được nội dung, các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, ý nghĩa của văn bản, tóm tắt được truyện theo các sự việc chính, thể thơ, vần, nhịp…

2. Tiếng Việt:

Học sinh ôn lại các kiến thức tiếng Việt đã học từ HK I, ngoài ra còn các kiến thức trong HK II như: Từ ngữ toàn dân và từ ngữ địa phương, biệt ngữ xã hội; câu hỏi tu từ, từ tượng hình, từ tượng thanh; biện pháp tu từ: So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ, đảo ngữ...

* Yêu cầu:

- Nhận biết được các đơn vị kiến thức tiếng Việt.

- Nêu vài trò, tác dụng của các đơn vị kiến thức.

- Vận dụng kiến thức trong thực hành nói và viết

3. Viết:

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội.

* Yêu cầu:

- Nắm vững thể loại nghị luận xã hội.

- Lập dàn ý và viết bài văn/ đoạn văn hoàn chỉnh.

Lưu ý: GV ra các dạng bài tập vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn.

II. Cấu trúc đề kiểm tra: 100% tự luận.

III. Một số bài tập tham khảo.

ĐỀ SỐ 1

Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

Đất nước
có thể đó là một chú dế mèn
gọi mùa thu về chập chờn ngoài cửa lớp
là trái bồ kết để em gội tóc
thơm hoài trong hơi thở buổi tự tình

… Đất Nước là cây cỏ không tên
những Vô Danh đối đầu cùng giông bão
chân lấm tay bùn làm ra hạt gạo
là đêm trăng bên cái giếng đầu làng
em khua gầu làm vỡ ánh trăng tan

… Đất Nước là hình ảnh con trâu
đi trước cái cày, trước cha, trước mẹ
là bài đồng dao con chim se sẻ
nó đẻ mái tranh, tôi ném hòn sành
là con Rồng cháu Tiên, là gương vỡ lại lành
là thần thoại nhổ tre mà đuổi giặc

… Đất Nước là tình chồng, nghĩa vợ
muối mặn gừng cay, tối lửa tắt đèn
là Tháp Mười đẹp nhất hoa sen
là sông, là suối, là rừng, là phố
là tất cả những gì tôi đang có
từ Nam Quan đến mũi Cà mau
Đất Nước còn tồn tại đến ngàn sau …

(Trích“Định nghĩa về Đất Nước”, Lê Minh Quốc, Theo“Tôi vẽ mặt tôi”, NXB Văn hóa thông tin, 1994).

CHÚ THÍCH:

- Lê Minh Quốc sinh ngày 1/8/1959 tại Thành phố Đà Nẵng, đi bộ đội trong khoảng 1977-1983 và chiến đấu ở chiến trường Campuchia, học Khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh từ 1984 đến 1987. Từ năm 1988 đến nay, ông công tác tại báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, ông là trưởng ban Văn hoá Văn nghệ báo Phụ Nữ thành phố Hồ Chí Minh.Ông là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhà báo thành phố Hồ Chí Minh, Hội Nhà văn Việt Nam (2001) và Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh.

- Lê Minh Quốc đã công bố 5 tiểu thuyết lịch sử về các nhân vật ; 14 tùy bút văn học; 7 tác phẩm biên khảo; 12 tập thơ. Các tác phẩm chính như: Trong cõi chiêm bao (NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1989), Ngày mai còn lại một mình tôi (NXB Trẻ, 1990), Tôi vẽ mặt tôi (NXB Văn hóa Thông tin, 1994),……

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. (1,5 điểm) Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? Em hãy nêu một số đặc điểm của thể thơ ấy?

Câu 2. (1,5 điểm) Trong ba khổ thơ đầu của đoạn trích, tác giả quan niệm Đất Nước là?

Câu 3. (1,0 điểm) Em hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ?

Câu 4. (1,0 điểm) Em ấn tượng nhất với câu thơ nào trong đoạn trích? Vì sao?

Câu 5. (1,0 điểm) Em rút ra cho bản thân những bài học gì sau khi đọc xong đoạn trích trên?

Phần II. Viết (4,0 điểm)

Em hãy viết một đoạn văn nêu cảm nghĩ của mình về đoạn trích được trích trong bài thơ“Định nghĩa về Đất Nước”, Lê Minh Quốc ở phần đọc hiểu?

ĐÁP ÁN ĐỀ MINH HỌA

ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

Đọc hiểu

6,0

 

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? Em hãy nêu một số đặc điểm của thể loại ấy?

- Thể loại: Thơ tự do

* Cách cho điểm:

+ Điểm 0,5: Trả lời đúng thể loại.

+ Điểm 0: Không trả lời hoặc trả lời sai.

- Đặc điểm:

+ Thơ tự do không quy định chặt chẽ về số tiếng, số dòng trong từng khổ thơ.

+ + Số tiếng trong các khổ thơ không đồng nhất: có dòng hai chữ, có dòng 8 chữ, có dòng 7 chữ.

+ + Số dòng trong các khổ thơ không đồng nhất.

+ Thơ tự do cũng không quy định bắt buộc phải có vần. Khi có vần, cách gieo vần cũng rất linh hoạt: vần chân hoặc vần lưng, vần liền hoặc vần cách.

+ Nhịp điệu của thơ tự do được tạo nên cách ngắt các vế trong dòng thơ, số tiếng của từng dòng, cách bố trí thanh điệu hoặc vần ở các tiếng nhấn mạnh trong dòng thơ.

+ Tính chất phóng khoáng về hình thức giúp thơ tự do có thể diễn tả sinh động cảm xúc của nhà thơ trước những biểu hiện mới mẻ, đa dạng, phong phú của cuộc sống.

* Cách cho điểm:

+ Điểm 1,0: Trả lời được 3,4 ý.

+ Điểm 0,75: Trả lời được 2 ý.

+ Điểm 0,5: Trả lời được 1 ý.

+ Điểm 0: Không trả lời hoặc trả lời sai.

0,5

 

 

 

1,0

 

 

Câu 2. Trong ba khổ thơ đầu của đoạn trích, tác giả quan niệm Đất Nước là?

- Đất nước là một chú dế mèn

- Đất nước là là trái bồ kết để em gội tóc

- Đất nước là cây cỏ không tên

- Đất nước là là đêm trăng bên cái giếng đầu làng

- Đất nước là hình ảnh con trâu

- Đất nước là là bài đồng dao con chim se sẻ

- Đất nước là là con Rồng cháu Tiên, là gương vỡ lại lành

- Đất nước là thần thoại nhổ tre mà đuổi giặc

* Cách cho điểm:

+ Điểm 1,5: Trả lời được như đáp án.

+ Điểm 1,0: Trả lời được đủ 5,6 ý như đáp án.

+ Điểm 0,75: Trả lời được đủ 3,4 ý như đáp án.

+ Điểm 0,5: Trả lời được đủ 1,2 ý như đáp án.

+ Điểm 0: Không trả lời hoặc trả lời sai.

1,5

 

 

 

Câu 3. Em hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ?

- Biện pháp tu từ điệp ngữ: cụm từ “Đất Nước là...” được điệp lại 4 lần xuyên suốt cả đoạn thơ.

* Lưu ý: Học sinh có thể nêu biện pháp tu từ điệp ngữ: “Đất Nước” vẫn cho điểm.

- Tác dụng:

+ Giúp cách diễn đạt trở lên lôi cuốn, hấp dẫn, tăng nhịp điệu, tạo liên kết cho đoạn thơ.

+ Nhấn mạnh, làm nổi bật hình ảnh đất nước và niềm yêu mến tự hào về Đất Nước vừa gần gũi thân thương vừa thiêng liêng cao quý.

+ Qua đó thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca, biết ơn của tác giả dành cho Đất nước mình.

Cách cho điểm:

+ Điểm 0,75: Trả lời được 3 tác dụng.

+ Điểm 0,5: Trả lời được 2 tác dụng.

+ Điểm 0,25: Trả lời được 1 tác dụng.

+ Điểm 0: Không trả lời.

* Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt linh hoạt theo ý hiểu của mình.

0,25

 

 

0,75

 

 

 

 

Câu 4. Em ấn tượng nhất với câu thơ nào trong đoạn trích? Vì sao?

- Đây là câu hỏi mở, học sinh có thể tự do lựa chọn câu thơ có trong đoạn trích mà mình yêu thích, ấn tượng và có lí giải hợp lí.

Ví dụ:

- Em ấn tượng tượng nhất với câu thơ: “Đất Nước là tình chồng, nghĩa vợ”

- Lí giải:

+ Câu thơ với hình ảnh so sánh: Đất Nước như tình chồng, nghĩa vợ. Đất nước của nhân nghĩa(tình chồng nghĩa vợ).

+ Cách viết này cho ta thấy tình yêu Đất nước của tác giả.

+ Bồi đắp cho ta tình yêu quê hương, đất nước

* Cách cho điểm:

+ Chọn được câu thơ ấn tượng nhất: 0,5 điểm.

+ Lí giải từ 2 ý trở lên:0,5 điểm

+ Lí giải từ 1 ý trở lên:0,25 điểm

+ Điểm 0: Không trả lời.

* Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt linh hoạt theo ý hiểu của mình.

 

 

 

 

0,5

 

 

0,5

Câu 5. Em rút ra cho bản thân những bài học gì sau khi đọc xong đoạn trích trên?

Bài học có thể rút ra sau khi đọc xong đoạn trích:

- Cần có tình yêu quê hương, đất nước.

- Khi đất nước cần sẵn sàng hi sinh thân mình.

- Tự hào, biết ơn thế hệ đi trước đã tạo dựng nên đất nước tươi đẹp.

...

* Cách cho điểm:

+ Điểm 1,0: Trả lời được 3 bài học.

+ Điểm 0,75: Trả lời được 2 bài học.

+ Điểm 0,5: Trả lời được 1 bài học.

+ Điểm 0: Không trả lời hoặc trả lời sai.

* Lưu ý:

- Học sinh có thể nêu được các i học khác chính xác ngoài đáp án.

- Có thể diễn đạt linh hoạt, sáng tạo.

1,0

 

-------------- HẾT ---------------

................

Xem đầy đủ nội dung đề cương trong file tải về

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 Cánh diều năm 2026

TRƯỜNG THCS ………….

 

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA KÌ 2

NĂM HỌC 2025 – 2026

MÔN: NGỮ VĂN 8

I. NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN ÔN TẬP

Phần 1: Nội dung kiến thức cần ôn tập

Văn bản:

- Nhận biết được một số yếu tố hình thức (chi tiết tiêu biểu, cốt truyện, ngôn ngữ, nhân vật,...) và phân tích được nội dung (đề tài, chủ đề, thông điệp,...) mà nhà văn muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản.

- Xác định giá trị nội dung, nghệ thuật của thơ trữ tình và thơ trào phúng trung đại làm theo thể thơ Đường luật. Nhận biết, phân tích được giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố thi luật (bố cục, niêm, luật, vần, nhịp, đối) của thơ thất ngôn bát cút, thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật và một số thủ pháp nghệ thuật của thơ trào phúng.

Các xác định đề tài và chủ đề trong tác phẩm văn học

Nội dung

Đề tài

Chủ đề

1. Khái niệm

Đề tài là phạm vi cuộc sống được miêu tả trong văn bản.

Chủ đề là vấn đề chính được thể hiện trong văn bản.

2. Cách xác định

Để xác định đề tài, người ta thường đặt câu hỏi: Tác phẩm viết về cái gì (hiện tượng, phạm vi cuộc sống)?

Để xác định chủ đề, thường phải trả lời câu hỏi: Vấn đề cơ bản mà tác phẩm nêu lên là gì?

- Chú ý: mỗi tác phẩm lớn có thể đặt ra nhiều vấn đề cơ bản (nhiều chủ đề)

Yếu tố thi luật trong thơ thất ngôn bát cú và thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

Nội dung

Thất ngôn bát cú

Thất ngôn tứ tuyệt

1. Thể, dạng

+ Thể thất ngôn (mỗi câu bảy chữ)

+ Dạng bát cú (mỗi bài tám câu)

+ Thể thất ngôn (mỗi câu bảy chữ)

+ Dạng tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu)

2. Bố cục

- Gồm bốn phần: đề, thực, luận, kết, mỗi phần có hai câu (gọi là liên).

+ Hai câu đề có nhiệm vụ mở bài, giới thiệu vấn đề mà bài thơ đề cập.

+ Hai câu thực nêu hiện tượng, sự vật, làm rõ hơn ý của đề bài được đưa ra ở hai câu đề.

+ Hai câu luận phát triển rộng thêm ý của bài, có chức năng luận bàn về vấn đề được nói đến ở các câu trên.

+ Hai câu kết có vai trò kết thúc ý toàn bài, thể hiện cảm xúc của nhà thơ; có khi hai câu kết còn gợi ra ý mới để suy nghĩ tiếp.

- Bố cục bốn phần (mỗi phần một câu): khởi, thừa, chuyển, hợp.

+ Câu khởi có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ.

+ Câu thừa nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ.

+ Câu chuyển có nhiệm vụ chuyển ý thơ từ việc phản ánh các sự vật, hiện tượng ở hai câu đầu sang phần gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh.

+ Câu hợp kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả.

3. Niêm

Hai câu thơ thuộc hai liên kết dính với nhau theo nguyên tắc: Âm tiết (chữ) thứ hai của các câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7 phải cùng thanh (niêm) với nhau.

Hai câu thơ thuộc hai liên kết dính với nhau theo nguyên tắc: các câu 1 và 4, 2 và 3 phải cùng thanh (niêm) với nhau.

4. Luật

Thơ Đường luật buộc phải tuân thủ luật bằng trắc. Nếu chữ thứ hai của câu thứ nhất mang thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, nếu mang thanh trắc thì là luật trắc.

5. Vần

Thường chỉ gieo vần bằng ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

Gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4.

6. Nhịp

Thường ngắt nhịp chẵn trước, lẻ sau, nhịp 4/3 (với thơ thất ngôn) hoặc 2/3 (với thơ ngũ ngôn).

7. Đối

Ở phần thực và luận, các chữ ở các câu thơ phải đối nhau về âm, về từ loại và về nghĩa.

Thơ trào phúng

Nội dung

Kiến thức

1. Khái niệm

Thơ trào phúng là một thể loại đặc biệt của sáng tác văn học, gắn liền với các cung bậc tiếng cười mang ý nghĩa xã hội:

- Hài hước là sự phê phán nhẹ nhàng.

- Châm biếm là dùng lời lẽ sắc sảo, thâm thuý để phê phán, vạch trần đối tượng.

- Đả kích là tiếng cười phủ định, thường dùng để chỉ trích, phản đối gay gắt đối tượng trào phúng.

2. Một số thủ pháp

- Chơi chữ là vận dụng các hiện tượng đồng âm, trái nghĩa, đa nghĩa, từ láy,... trong câu thơ để tạo nên ý nghĩa bất ngờ làm bật ra tiếng cười.

- Sử dụng khẩu ngữ, ngôn ngữ đời thường một cách hài hước cũng là thủ pháp căn bản tạo nên tiếng cười trong thơ trào phúng.

- Cường điệu là nói quá, phóng đại, nhân lên gấp nhiều lần tính chất, mức độ nhằm làm nổi bật tính hài hước của đối tượng.

- Tương phản là sử dụng các từ ngữ, hình ảnh,.. trái ngược nhau, tạo nên sự đối lập nhằm khắc hoạ, tô đậm đặc điểm của đối tượng và châm biếm, phê phán, đả kích đối tượng.

Bảng hệ thống hóa thông tin về các văn bản đọc

Bài

Văn bản

Tác giả

Loại, thể loại

Đặc điểm nổi bật

Nội dung

Hình thức

6

Lão Hạc

Nam Cao

Truyện ngắn

Qua đoạn trích tác giả đã thể hiện sự chân thực và cảm động về số phận đau thương của người nông dân trong xã hội phong kiến cũ và ca ngợi những phẩm chất cao quí của họ. Đồng thời cũng cho thấy sự yêu thương trân trọng của Nam Cao đối với những người nông dân như thế.

Nam Cao đã thể hiện tài năng nghệ thuật của mình trong việc miêu tả tâm lí nhân vật, cách kể chuyện giản dị, tự nhiên chân thực, giọng điệu linh hoạt và tình huống độc đáo.

 

 

 

 

 

................................

II. ĐỀ MINH HỌA

ĐỀ SỐ 1

Phần I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

CÚC ÁO CỦA MẸ

Nhất Băng (Trung Quốc)

Cậu còn nhớ sinh nhật 12 tuổi. Vừa sáng tinh mơ, đã nghe thấy mẹ nói: “Con trông đây là cái gì?”. Cậu mở to mắt, trước mặt là một chiếc áo mới, kiểu quân phục như cậu từng mơ ước, hai hàng cúc đồng, trên vai áo có ba vạch màu xanh, đó là mốt quần áo “thịnh hành” trong học sinh. Cậu bỗng mừng rơn, vội mặc áo quần. Cậu muốn đến lớp, ra oai với các bạn. Từ nhỏ đến lớn, cậu toàn mặc quần áo cũ của anh, vá chằng vá đụp nữa! Quả nhiên đúng như dự kiến, khi cậu bước vào lớp, ánh mắt của các bạn đều trố lên. Các bạn đều không ngờ được rằng, cậu bạn lúc nào cũng mặt mày lọ lem, đầu bù tóc rối bụi bặm cũng có lúc vẻ vang rạng rỡ như thế.

Cậu hoàn thành tiết học đầu tiên một cách vui vẻ, hởi lòng hởi dạ. Trong giờ giải lao, các bạn đều vây quanh cậu. Có bạn bỗng hỏi: “Ô hay! Tại sao khuy áo của bạn không giống của chúng mình nhỉ?”

Lúc ấy, cậu mới nhìn kỹ cúc áo của mình, quả thật không giống cúc áo của người khác, hai dãy thẳng đứng. Còn cúc áo của cậu lại nghiêng lệch, hai dãy xếp thành hình chữ “vê” (V).

Các bạn bỗng đều cười òa lên. Thì ra, chỗ đính khuy trên chiếc áo trắng của cậu là một miếng vải cũ màu vàng. Cậu cũng hiểu ra, chắc là mảnh vải mẹ mua không đủ may áo, đành phải lót bên trong bằng mảnh vải khác, sợ người khác nhìn thấy cúc áo đành phải đính sang bên cạnh. Và cũng để người khác không nhìn thấy, mẹ đã khéo léo đính chéo hàng cúc kia, tự nhiên thành hình chữ “vê” (V).

Biết rõ sự thực, các bạn lại giễu cợt, khiến cho lửa giận bốc lên ngùn ngụt trong lòng cậu. Buổi trưa về đến nhà, cậu cắt nát vụn chiếc áo mới của mình. Mẹ cậu lao đến trước mặt con, giơ cao tay, nhưng cuối cùng không giáng xuống. Cậu liếc nhìn, thấy nước mắt mẹ chảy quanh trong khóe mắt, vội quay đầu chạy biến…(...) Từ hôm ấy trở đi, mẹ làm việc ít nghỉ tay. Cậu tận mắt thấy mẹ gầy sọp đi, thấy mẹ nằm bẹp rồi ra đi mãi mãi… Cậu rất muốn nói một câu: “Con xin lỗi mẹ”, mà không còn cơ hội nữa. Sau này, cậu cố gắng học tập, cậu có rất nhiều, rất nhiều tiền, rồi sửa sang phần mộ của mẹ nhiều lần.

Một hôm, cậu tham gia một cuộc trình diễn thời trang của nhà thiết kế bậc thầy. Có một người mẫu nam bước lên sàn diễn khiến mắt cậu bỗng căng lên, đầu óc kêu ong ong hỗn loạn. Bộ áo màu trắng với hai dãy khuy đồng hình chữ “vê” (V). Bên trong có phải là…? Cậu không làm chủ được mình, lao lên sàn diễn, lật ra xem tấm áo của người mẫu nam, lót bên trong tự nhiên cũng là một mảnh vải vàng! Cậu quỳ sụp trước mặt người mẫu nam, òa khóc thống khổ.

Sau khi nghe cậu kể hết câu chuyện, tất cả những người có mặt tại hội trường đều trầm ngâm suy nghĩ mãi. Cuối cùng, một nhà thiết kế bậc thầy nói: “Thực ra, tất cả những người mẹ đều là các nhà nghệ thuật!”.

(Vũ Phong Tạo dịch, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 3/2011, tr.45-46)

Câu 1. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?Ai là nhân vật chính của câu chuyện?

Câu 2.

a). Nhân vật "cậu" có thái độ như thế nào khi được mẹ "cậu" tặng chiếc áo mới ?

b). Câu văn:Ô hay! Tại sao khuy áo của bạn không giống của chúng mình nhỉ?”có chứa thành phần biệt lập gì?

Câu 3. Vì sao khi tham gia buổi trình diễn thời trang nhân vật cậu lại quỳ sụp trước mặt người mẫu và òa khóc thống khổ ?

Câu 4. Em có đồng tình với câu nói của nhân vật nhà thiết kế bậc thầy trong văn bản: “Thực ra, tất cả những người mẹ đều là các nhà nghệ thuật!” không? Vì sao?

Câu 5: Nêu bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ câu chuyện. Em sẽ làm gì để thực hiện bài học đó?

II. VIẾT (4,0 điểm)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện em đã học hoặc đã đọc

---------HẾT---------

ĐÁP ÁN ĐỀ KIỂM TRA

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

 

I

ĐỌC HIỂU

6,0 điểm

Câu 1

Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là nhân vật chính của câu chuyện?

1,0 điểm

-Hs trả lời : Truyện được kể theo ngôi thứ nhất.

- Nhân vật chính của câu chuyện là: nhân vật "cậu".

Cách cho điểm:

- HS trả lời đúng ngôi kể cho: 0,5 điểm, trả lời không đúng không cho điểm.

- HS trả lời đúng nhân vật chính cho: 0,5 điểm, trả lời không đúng không cho điểm.

 

Câu 2

a). Nhân vật cậu có thái độ như thế nào khi được mẹ cậu tặng chiếc áo mới ?

b). Câu văn:Ô hay! Tại sao khuy áo của bạn không giống của chúng mình nhỉ?”có chứa thành phần biệt lập gì?

1,5 điểm

a). - Nhân vật cậu có thái độ:

+ Mừng rơn, vội mặc quần áo.

+ Muốn đến lớp, ra oai với các bạn.

Cách cho điểm:

- HS trả lời đúng mỗi ý cho: 0,5 điểm, trả lời không đúng không cho điểm.

b) - Câu văn:Ô hay! Tại sao khuy áo của bạn không giống của chúng mình nhỉ?”có chứa thành phần cảm thán. Thể hiện qua từ " ô hay".

Cách cho điểm:

- HS trả lời đúng thành phần cảm thán cho: 0,25 điểm, chỉ rõ được từ cảm thán" ô hay" cho: 0,25 điểm.

; trả lời không đúng không cho điểm

1,0 điểm

 

 

 

 

 

0,5 điểm

Câu 3

Vì sao khi tham gia buổi trình diễn thời trang nhân vật cậu lại quỳ sụp trước mặt người mẫu và òa khóc thống khổ ?

1,0 điểm

Nhân vật cậu lại quỳ sụp trước mặt người mẫu và òa khóc thống khổ vì:

- Cậu gặp lại chiếc áo giống chiếc áo mà mẹ cậu tặng năm xưa

- Thể hiện niềm xót xa, ân hận, đau khổ đến tột cùng.

Cách cho điểm:

- HS trả lời đúng mỗi ý cho: 0,5 điểm, trả lời không đúng không cho điểm.

 

Câu 4

Em có đồng tình với câu nói của nhân vật nhà thiết kế bậc thầy trong văn bản: “Thực ra, tất cả những người mẹ đều là các nhà nghệ thuật!” không? Vì sao?

- Đồng tình

1,5 điểm

 

 

 

 

- Vì: Câu nói của nhà thiết kế đã khẳng định tình yêu thương của người mẹ với con là vô cùng vĩ đại. Tình yêu thương của mẹ đem lại giá trị tinh thần vô giá cho con. Chính tình yêu thương của người mẹ đã khiến cho mỗi người mẹ trở thành nhà thiết kế bậc thầy. Khẳng định mối quan hệ giữa tình yêu thườn và sự sáng tạo.

Cách cho điểm:

- HS bày tỏ quan điểm đồng tình cho: 0,5 điểm, Không bày tỏ quan điểm không cho điểm.

- HS lí giải đầy đủ như trên cho 1,0 điểm, lí giải sơ sài cho 0,5 điểm

 

 

Nêu bài học ý nghĩa nhất mà em rút ra từ câu chuyện. Em sẽ làm gì để thực hiện bài học đó?

1,0 điểm

 

 

 

 

Câu 5

- Học sinh rút ra bài học ý nghĩa nhất câu chuyện:

Chúng ta hãy biết trân trọng những gì mình đang có, trước khi thời gian dạy cho bạn hiểu những giá trị gì bạn đã từng có.

- Để thực hiện bài học đó, em cần phải:

+ Cần yêu thương, quan tâm đến cảm xúc của người thân

+ Có cách cư xử bình tĩnh đúng mực, biết kìm chế, làm chủ cảm xúc của

+ Luôn trân trọng, giữ gìn từng giá trị nhỏ nhất mà mình đang có.

- …

Cách cho điểm: Mỗi ý trả lời đúng cho 0,5 điểm

- Ý 1: HS có thể đưa ra các bài học khác, nếu hợp lí vẫn cho điểm tối đa (nếu hs đưa ra nhiều bài học không cho điểm).

- Ý 2: HS có thể đưa ra những cách thực hiện khác ngoài những cách trên nếu hợp lí vẫn cho điểm.

 

 

 

II

VIẾT

Viết bài văn phân tích một tác phẩm em đã học hoặc đã đọc

4,0 điểm

* Yêu cầu chung:

- Đây là kiểu đề mở, học sinh có thể tự do lựa chọn một tác phẩm truyện để phân tích.

- Xác định đúng kiểu bài nghị luận.

 

..................

Xem đầy đủ nội dung đề thi trong file tải về

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo năm 2026

UBND XÃ…..

THCS …….

ĐỀ CƯƠNG, MA TRẬN KIỂM TRA GIỮA HKII

NGỮ VĂN LỚP 8

Năm học 2025 - 2026

PHẦN 1: ĐỀ CƯƠNG

I. Đọc hiểu văn bản

1. Tri thức Ngữ văn:

-Thể loại: Thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt Đường luật, truyện.

- Chủ đề: Tình yêu Tổ quốc, Yêu thương và hi vọng.

*Yêu cầu cần đạt

- Nhận biết được một số yếu tố thi luật của thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt Đường luật như: niêm, luật, vần, nhịp.

- Nhận biết và phân tích được nét độc đáo của bài thơ; mạch cảm xúc; tình cảm, cảm xúc; cảm hứng chủ đạo của người viết.

- Nêu được nội dung bao quát của văn bản truyện; nhận biết được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, chủ đề, thông điệp, nhân vật trong tính chỉnh thể của tác phẩm. Phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề. Nhận xét được nội dung phản ánh và cách nhìn cuộc sống, con người của tác giả.

2. Tri thức tiếng Việt:

- Đảo ngữ, câu hỏi tu từ.

-Biệt ngữ xã hội.

*Yêu cầu cần đạt

- Nhận biết được đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ, câu hỏi tu từ.

- Nhận biết được đặc điểm và chức năng của các biệt ngữ xã hội.

* Ngữ liệu lấy ngoài sách giáo khoa tương đương với các thể loại văn bản được học trong chương trình. Ngữ liệucó thể là01 đoạn trích/ văn bản hoàn chỉnh, phải có nguồn rõ ràng, độ tin cậy cao; có ý nghĩa giáo dục, xã hội, nhân văn sâu sắc.

II. Viết

- Biết viết văn bản đảm bảo các bước: chuẩn bị trước khi viết (xác định đề tài, mục đích, thu thập tư liệu); tìm ý và lập dàn ý; viết bài; xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm.

- Kể một hoạt động xã hội mà em tham gia

PHẦN 2: MA TRẬN, BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA

I. HÌNH THỨC, THỜI GIAN KIỂM TRA

- Hình thức kiểm tra: Tự luận

- Số câu: 6

+ Đọc hiểu: 5 câu.

+ Viết: 1 câu.

- Số điểm: 10

- Thời gian làm bài: 90 phút.

 

III. ĐỀ MINH HỌA

ĐỀ SỐ 1 (CẤU TRÚC 5-5)

I. ĐỌC HIỂU: ( 5.0 điểm) Đọc bài thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới.

CHIỀU HÔM NHỚ NHÀ

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

(Bà Huyện Thanh Quan)

Câu 1.(1.0 điểm).Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Theo luật gì, gieo vần gì?

Câu 2.(1.0 điểm). Xác định biện pháp tu từ đảo ngữ và nêu tác dụng của biện pháp ấy trong hai câu thơ sau:

Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.

Câu 3.(1.0 điểm). Trong bài thơ, cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của con người có mối liên hệ như thế nào?

Câu 4.(1.0 điểm). Xác định câu hỏi tu từ có trong bài thơ trên ? Nhận xét hiệu quả của câu hỏi tu từ ấy trong việc thể hiện nội dung bài thơ ?

Câu 5.(1.0 điểm).Từ nội dung của bài thơ, em hãy nêu rõ vai trò của quê hương đối với mỗi người.

II. VIÊT: (5,0 điểm)

Viết bài văn kể lại một hoạt động xã hội có ý nghĩa tích cực đối với cộng đồng mà em đã tham gia hoặc chứng kiến. (Trong bài viết có kết hợp kể với hai yếu tố miêu tả và biểu cảm).

..............

ĐỀ SỐ 4 (Cấu trúc 4-6)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (6,0 điểm)

Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:

Một gia đình nọ mới dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào lúc ăn điểm tâm, đứa con thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi. “Tấm vải bẩn thật!" - Cậu bé thốt lên “- Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một thứ xà bông mới thì giặt sẽ sạch hơn”. Người mẹ nhìn cảnh ấy nhưng vẫn im lặng. Cậu bé vẫn cứ tiếp tục lời bình phẩm ấy mỗi lần bà hàng xóm phơi tấm vải.

Ít lâu sau, vào một buổi sáng, cậu bé ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch, nên cậu nói với mẹ “Mẹ nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết giặt tấm vải sạch sẽ, trắng tinh rồi". Người mẹ đáp: “Không, sáng nay mẹ đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”.

(Phỏng theo “Nhìn qua khung cửa sổ”, www.goctamhon.com)

Thực hiện các yêu cầu

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là gì?

Câu 2: Hãy cho biết câu văn“Tấm vải bẩn thật!" thuộc kiểu câu nào trong các kiểu câu sau?

Câu 3: Tại sao nói lời kể trong câu chuyện ở văn bản trên là của người kể chuyện giấu mặt?

Câu 4: Chủ đề của văn bản trên là:

Câu 5: Qua lời đáp của người mẹ: "Không, sáng nay mẹ đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”, em thấy mẹ giải đáp, giải thích điều gì cho con?

Câu 6: Qua những lời bình phẩm của cậu bé, em nhận thấy đâu không phải là tính cách nổi bật của nhân vật?

Câu 7: Từ nội dung văn bản phần đọc hiểu em rút ra được bài học gì cho mình? (1 điểm)

Câu 8: Qua văn bản trên, em hãy viết đoạn văn khoảng 8-10 câu nêu ý nghĩa của thái độ sống tích cực. (2 điểm)

PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)

Viết bài văn phân tích câu chuyện “Nhìn qua khung cửa sổ”.

ĐỀ SỐ 2

I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu:

Người bạn mới

Buổi học hôm nay có chuyện “hay” quá! Vừa về đến nhà Tú khoe ngay với mẹ:

- Mẹ ơi! Lớp con có một thằng…

Mẹ ngẩng lên:

- Sao lại thằng?

Tú vẫn hớn hở:

- Vâng! Một thằng mới vào học mẹ ạ! Buồn cười lắm!

Mẹ nhìn em:

- Buồn cười làm sao?

- Hí hí! Nó mặc áo con gái, mẹ ạ!

Mẹ hỏi:

- Áo con gái thế nào?

Tú vừa cười vừa kể rằng: Cái “thằng ấy” mới xin chuyển về, vào lớp 5C của con, nó mặc cái quần ngắn ơi là ngắn và cái áo sơ mi ở trong chiếc áo len thì lại cổ lá sen. Kiểu cổ áo của con gái. Thế có buồn cười không?

- Cái thằng ấy, mẹ ạ…

Mẹ lắc đầu:

- Sao con cứ gọi bạn là thằng thế nhỉ? Nói chuyện với mẹ, với bố, con không được gọi bạn là thằng nọ thằng kia. Bạn ấy tốt hay xấu mà con lại gọi thế?

Tú lúng túng:

- Con… con cũng chưa biết ạ!

- Không biết một tí gì hết?

Tú ngần ngừ, rồi thưa:

- Nó dát lắm mẹ ạ. Chúng con chế là mặc áo con gái, nó chỉ im lặng rồi đứng một mình thôi.

Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui. Mẹ nhìn em có ý trách:

- Hết gọi bạn là thằng, rồi lại gọi là nó. Sao con không gọi hẳn tên bạn ra hoặc là: bạn ấy, bạn con được nhỉ? Tên bạn ấy là gì?

- Là Nam. Phó Văn Nam mẹ ạ. Buồn cười quá cơ!

- Thế thì đến mai, con hãy chơi với Nam và hỏi sao Nam lại mặc áo con gái nhé!

Cậu Nam ấy, hóa ra là một học sinh giỏi. Ngay bài toán tập đầu tiên làm ở lớp mới, không cần phải hỏi bạn ngồi bên cạnh, không xem bài của ai, cậu ấy đã được hẳn mười điểm. Mà chữ viết nữa chứ, rất đẹp.

Tú làm quen và biết được rằng nhà Nam nghèo thôi. Đến cái ti vi, bố mẹ cậu ấy cũng không có tiền để mua. Nam phải chuyển trường đi theo bố mẹ, vì mãi đến bây giờ cơ quan mới chia nhà cho. Trước đây là đi ở nhờ. Bố mẹ Nam có hai con. Chị Nam là con gái, áo quần mặc chật từ lúc bé, có cái nào mẹ lại mặc cho Nam. Mặc ở nhà và mặc ở trong cũng được. Mẹ Nam bảo Nam là: Bộ mặc ở ngoài thì cần phải đúng là của con trai. Lớn hơn nữa, thì thôi. Giờ còn bé thì mặc tạm. Mẹ sẽ dành tiền may cho Nam. Thương mẹ vất vả, nên Nam đã vâng lời. Tú nghe bạn kể mà thương bạn. Mặc áo thừa của chị, mà vẫn học giỏi, lại biết thương mẹ, chứ không đua đòi, thấy ai có cái gì cũng muốn có theo.

Ngay hôm đó, về nhà Tú khoe:

- Mẹ ơi! Bạn Nam ấy, hay lắm mẹ ạ!

Mẹ hỏi:

- Hay làm sao?

- Bạn ấy là học sinh giỏi và… ngoan, mẹ ạ!

Mẹ nhìn em. Ánh mắt mẹ cười vui…

(Phong Thu - Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng)

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1: Văn bản “Người bạn mới” thuộc thể loại truyện gì?

Câu 2: Văn bản “Người bạn mới” viết về đề tài gì?

Câu 3: Đâu không phải là tác dụng của việc khắc họa nhân vật Tú ở phương diện hành động trong văn bản “Người bạn mới”?

Câu 4: Tác dụng của trợ từ trong câu: “Thế thì đến mai, con hãy chơi với Nam và hỏi sao Nam lại mặc áo con gái nhé!”

Câu 5: Tại sao mẹ không vui, và có ý trách Tú khi thấy Tú gọi bạn là “thằng ấy”, “nó”?

Câu 6: Tại sao lúc đầu Tú lại thấy Nam: “Buồn cười lắm!”, “Buồn cười quá cơ!”

Câu 7: Vì sao đến cuối câu chuyện, Tú thay đổi cách nhìn về Nam?

Câu 8: Bằng một đoạn văn khoảng 8 câu em hãy trình bày về bài học mà em nhận được sau khi đọc truyện “Người bạn mới” của Phong Thu.

II. PHẦN VIẾT:

Đề bài: Viết bài văn phân tích truyện “Người bạn mới”

ĐỀ SỐ 3

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.

Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua ngày nọ rồi lại đến ngày kia. Tuy vậy cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế, các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau những câu chuyện kín đáo; các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì ngồi giũ tóc cho chúng và gọt tóc chúng bằng mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ. Còn những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong những ngày hè nóng bức, con bác Lê đứa nào cũng lở đầu. Bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại nên bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại càng giống mẹ con một đàn gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố chợ thường nói đùa bác Lê về đàn con đông đúc ấỵ Bác Đối kéo xe, người vui tánh nhất xóm, không lần nào đi qua nhà bác Lê mà không bảo:

- Bác phải nhớ thỉnh thoảng đếm lại con không quên mất.

Bác Lê bao giờ cũng trả lời một câu:

- Mất bớt đi cho nó đỡ tội.

Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hy hơn cả. Nó là con thứ chín, ốm yếu, xanh xao nhất trong nhà. Bác thường bế nó lên hôn hít, rồi khoe với hàng xóm, nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác lại ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.

(...)

Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Buổi chợ họp không đông đúc như trước. Những tiếng nói chuyện trong sương lúc mờ sáng của các người hàng sáo gánh gạo kĩu kịt trên đò để đem xuống huyện bán, người ta không nghe thấy nữa. Cái đói kém đến chen lẫn trong các phố chợ. Bác Hiền ngày nào cũng gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về. Còn thường thấy bác Đối kéo cái xe không, đi lảng vảng trong huyện và vợ bác cũng không hay nằm võng hát trống quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong làng, xin làm mướn, nhưng các nhà có ruộng không ai mướn. Bác có làm không công, người ta cũng chỉ cho có nửa bát gạo, đùm bọc về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày nhịn đói liên tiếp nhau luôn. Bác Lê thấy đàn con ngày một gầy còm, buổi chiều bác mệt nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem có đánh được ít cá nào không, thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta đã cấm không cho nó thả lờ nữa. Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn đuốc không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét và khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm và chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm lời gì, ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.

(...)

Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt. Những cái rùng mình lạnh lẽo nối nhau lướt trên da bác, manh chiếu rách không đủ đắp ấm thân. Trong lúc mê sảng, bác Lê tưởng nhớ lại cả cuộc đời mình, từ lúc còn bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sở nhọc nhằn. Cái nghèo không biết tự bao giờ đã vào nhà bác. Lúc sinh ra bác đã thấy nó rồi, và từ đó nó cứ theo liền bác mãi. Nhưng có người mướn làm thì không đến nỗi. Bác nhớ lại những buổI đi làm khó nhọc, nhưng bác vui vẻ được lĩnh gạo về cho con, những bữa cơm nóng mùa rét, những lúc thằng Hy và con Tý vui đùa giằng co chiếc bánh bác mua cho chúng.

Rồi đến những ngày đi mót lúa mỏi lưng trên cánh đồng, nhặt những bông lúa thơm, những lúc vò lúa dưới chân... Bác Lê nhớ lại cái cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông lúa sắc sát vào thịt da. Đấy còn là những ngày no đủ. Rồi đến những buổi chợ sáng, những ngày nhịn đói như hôm naỵ Bác mơ màng thấy vàng son chói lọi trong nhà ông Bá, thấy nét mặt gian ác của cậu Phúc, con chó tây nhe nanh chồm đến.

- Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?

Tiếng kêu thất thanh của bác làm lũ trẻ giật mình, chúng nó ngồi dậy đưa mắt sợ hãi nhìn người mẹ. Hai hôm sau, bác Lê lại lên cơn mê sảng rồi chết. Người trong phố chợ gom góp nhau mua cho bác một cỗ ván mọt, rồi đưa giúp bác ra cánh đồng, chôn vùi dưới bãi tha ma nhỏ ở đầu làng.

Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè. Con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi chợ một lát rồi sẽ về. Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ hết.

(Trích “Nhà mẹ Lê” – Thạch Lam)

Câu 1: Đoạn trích trên có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt nào?

Câu 2: Đoạn trích đã kể về sự việc gì?

Câu 3: Trong đoạn văn, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả ngoại hình bác Lê qua chi tiết nào?

Câu 4: Chủ đề của văn bản trên là gì?

Câu 5: Trong các nhóm từ sau, nhóm từ nào gồm những từ láy tượng hình xuất hiện trong đoạn trích?

Câu 6: Nhà văn Thạch Lam đã bày tỏ tình cảm gì đối với nhân vật bác Lê?

Câu 7: Trong câu văn sau: “Dưới manh áo nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết”, em hãy tìm và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ mà em tìm được.

Câu 8: Viết đoạn văn (khoảng 8-10 dòng) trình bày ý kiến của em về sự đồng cảm với những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống.

II. VIẾT (4,0 điểm)

Đề bài: Viết bài văn phân tích truyện “Nhà mẹ Lê” của Thạch Lam.

................

Xem đầy đủ đề thi trong file tải về

Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Thanh
Liên kết tải về
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
2 Bình luận
Sắp xếp theo
👨
  • 🖼️
    Hiền Trần

    Quê tôi ko có chùa nào :)


    Thích Phản hồi 20/03/23
  • 🖼️
    Tram Nguyen thi

    dài

    Thích Phản hồi 09:58 21/03
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo