Đề cương ôn tập giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 năm 2025 - 2026 (Sách mới) Ôn tập giữa kì 2 Văn 11 sách KNTT, CD, CTST (Có đáp án)

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 năm 2025 - 2026 gồm 3 sách Cánh diều, Chân trời sáng tạo và Kết nối tri thức hệ thống kiến thức cần nắm kèm theo đề minh họa có đáp án + tự luyện.

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Văn 11 năm 2026 giúp các em học sinh hệ thống hóa kiến thức đã học, định hướng những nội dung trọng tâm cần ôn luyện, từ đó giúp tránh học lan man, không hiệu quả. Thông qua đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 các em học sinh có thể củng cố hiểu biết về các tác phẩm văn học, kiến thức tiếng Việt và kĩ năng làm văn, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy và trình bày bài viết. Nhờ có đề cương ôn tập, việc chuẩn bị cho bài kiểm tra giữa học kì trở nên chủ động, khoa học và đạt kết quả tốt hơn. Bên cạnh đó các bạn xem thêm đề thi giữa kì 2 môn Ngữ văn 11 Cánh diều.

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 năm 2025 - 2026

Lưu ý: Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo chưa có đáp án

Đề cương giữa kì 2 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức

A. PHẠM VI VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÁNH GIÁ

I. Đọc hiểu (5,0 điểm)

- Ngữ liệu ngoài SGK, thuộc các thể loại: Truyện thơ Nôm, thơ chữ Hán của Nguyễn Du; Kí.

II. Viết (5,0 điểm)

- Viết bài văn (NLXH hoặc NLVH)

+ Nghị luận xã hội: Viết bài văn thuyết minh về sự vật, hiện tượng đời sống xã hội.

+ Nghị luận văn học: Viết bài văn nghị luận bàn về cốt truyện, nhân vật, thời gian, không gian, người kể chuyện, ngôi kể, biện pháp nghệ thuật, tâm trạng nhân vật… trong văn bản truyện thơ; Chi tiết, hình ảnh, tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ chữ Hán; Ghi chép và tưởng tượng trong kí.

III. Ma trận đề

Cấp độ

duy

Mạch nội dung

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Tổng cộng

I. Năng lực Đọc

 

- Nhận biết được câu chuyện, nhân vật, chi tiết, sự việc... trong văn bản.

- Xác định được: thời gian, không gian diễn ra câu chuyện.

- Xác định được những hình ảnh, chi tiết miêu tả nhân vật, sự việc

- Giải thích được ý nghĩa từ ngữ, hình ảnh, chi tiết trong câu thơ, câu văn được sử dụng trong văn bản.

- Nêu được hiệu quả của biện pháp tư từ trong câu thơ, câu văn, đoạn thơ, đoạn văn.

- Rút ra được bài học, thông điệp có ý nghĩa từ câu thơ, câu văn có trong văn bản.

 

Số câu

2 câu

3 câu

1 câu

6 câu

Điểm

1,5

2,5

1

5

Tỉ lệ

15%

25%

10%

50%

II. Năng lực Viết

 

 

- Xác định được vấn đề

- Hiểu được hiện tượng

- Sử dụng linh hoạt

 

 

đời sống cần thuyết

đời sống đó là gì? có

các yếu tố tự sự,

 

minh; Triển khai được

nguyên nhân từ đâu?

biểu cảm, nghị

Viết bài văn thuyết minh về hiện tượng đời sống hoặc viết bài văn nghị luận văn học

theo cấu trúc: nguyên nhân - kết quả - giải pháp.

- Xác định đúng vấn đề cần bàn luận trong bài văn NLVH.

Nêu được hiện tượng đời sống đó có tác động tích cực hay tiêu cực tới đời sống con người? Đề xuất được việc cần làm để phát

huy tác động tích cực,

luận… vào bài văn thuyết minh; Lựa chọn, đưa ra dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề; Có những sáng tạo trong quá

trình thuyết minh.

 

 

xóa bỏ tiêu cực.

- Đề xuất được hệ

- Phân tích, bàn luận để làm sáng rõ

Cấp độ

duy

Mạch nội dung

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng

Tổng cộng

 

 

thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận; Sắp xếp được hệ thống ý theo đặc điểm, bố cục của bài văn NLVH.

vẻ đẹp, sức hấp dẫn của nhân vật, tâm trạng nhân vật, người kể chuyện, hình ảnh, ngôn từ… trong văn bản; Thể hiện được sự sáng tạo trong quá trình viết bài văn nghị luận văn học.

 

Số câu

Số điểm Tỉ lệ

1,0 điểm

10%

2,5 điểm

25%

1,5 điểm

15%

1 câu

5,0 điểm

50%

Tổng

2,5 điểm

25%

5,0 điểm

50%

2,5 điểm

25%

10 điểm

100%

A. TRI THỨC NGỮ VĂN

I. Truyện thơ Nôm

1. Định nghĩa: Truyện thơ Nôm (hay truyện Nôm) là một thể loại văn học độc đáo của văn học Việt Nam, sáng tác dưới hình thức văn vần (lục bát hoặc song thất lục bát), có cốt truyện, phát triển mạnh vào cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XIX; dùng thơ tiếng Việt viết bằng chữ Nôm (thường là thơ lục bát) để kể chuyện (trần thuật), có khả năng phản ánh về hiện thực xã hội và con người với một phạm vi tương đối rộng.

2. Phân loại: Truyện thơ Nôm thường chia làm hai loại:

- Truyện thơ Nôm bình dân do các tác giả trong giới bình dân (thường là khuyết danh) sáng tác, chủ yếu lưu hành trong dân gian, nội dung phản ánh cuộc sống và khát vọng của người dân tầng lớp dưới, ngôn ngữ giản dị gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân. Ví dụ: Thạch Sanh, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa,...

- Truyện thơ Nôm bác học do các tác giả là trí thức Nho học (thường có tên tuổi, lai lịch rõ ràng) sáng tác, lưu hành rộng rãi nhưng chủ yếu vẫn trong giới trí thức tinh hoa, có nội dung phản ánh số phận và nhu cầu của giới trí thức, có chất lượng nghệ thuật cao. Ví dụ: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Mai đình mộng ký (Nguyễn Huy Hổ), Sơ kính tân trang (Phạm Thái).

3. Cốt truyện

- Cốt truyện trong truyện thơ Nôm: Truyện thơ Nôm có thể sử dụng cốt truyện dân gian, cốt truyện trong văn học viết Trung Quốc hoặc cốt truyện lấy từ chính cuộc đời tác giả và thực tiễn đời sống. Cốt truyện trong truyện thơ Nôm thường được chia làm hai nhóm, thể hiện qua các mô hình sau:

*Mô hình Gặp gỡ (Hội ngộ) à Biến cố (Lưu lạc) à Đoàn tụ (Đoàn viên)

Ví dụ: Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Truyện Kiểu,…

*Mô hình Nhân - Quả

Ví dụ: Thạch Sanh, Quan Âm Thị Kính,…

4. Nhân vật

- Nhân vật trong truyện thơ Nôm thường được chia thành hai tuyến rõ ràng: nhân vật chính diện (đại diện cho cái tốt, cái đẹp, cái tiến bộ) và nhân vật phản diện (đại diện cho cái xấu, cái ác, cái bảo thủ).

- Nhân vật trong truyện thơ Nôm thường được xây dựng theo khuôn mẫu như: chàng trai tài giỏi (tài tử), chung tình, hiếu học, trải qua nhiều khó khăn về sau thành đạt; cô gái xinh đẹp (giai nhân), nết na, đảm đang, hiếu thảo, luôn sắt son chung thuỷ,...

5. Ngôn ngữ

- Truyện thơ Nôm được viết bằng chữ Nôm, có sự kết hợp giữa tự sự với trữ tình.

- Truyện thơ Nôm bình dân có ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, còn truyện thơ Nôm bác học sử dụng nhiều biện pháp tu từ và nhiều điển tích, điển cố.

- Có nhiều tác phẩm đạt tới trình độ điêu luyện.

II. Kí

1. Khái niệm

- Là tên gọi một nhóm các thể/tiểu loại tác phẩm văn xuôi phi hư cấu có khả năng dung hợp các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thông tin,… nhằm tái hiện những trạng thái đời sống đang được xã hội quan tâm và bộc lộ trực tiếp những cảm nghĩ của tác giả.

- Phân loại: Tùy vào mục đích viết, sự bộc lộ cái tôi tác giả và cách thức tổ chức các phương tiện biểu đạt mà tác phẩm kí được gọi là tùy bút, tản văn, phóng sự hay kí sự, truyện kí, hồi kí, nhật kí, du kí,…

+ Tản văn: là một dạng văn xuôi gần với tuỳ bút; thường kết hợp tự sự, trữ tình, nghị luận, miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ nhân vật… nhằm thể hiện những rung cảm thẩm mĩ và quan sát tinh tế của tác giả về đối tượng đa dạng trong cuộc sống. Cái “tôi” được bộc lộ nhưng được tiết chế hơn tùy bút.

+ Tùy bút: là tiểu loại thuộc loại hình kí; thường tập trung thể hiện cái “tôi” của tác giả, luôn có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình. Ở tuỳ bút, chi tiết, sự kiện chỉ là cái cớ, là tiền đề để bộc lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức, đánh giá về con người. Ngôn ngữ của tùy bút giàu chất thơ (có chất trữ tình, giàu nhạc điệu, giàu sức gợi,...).

+ Truyện kí: là một dạng truyện kể về người thật, việc thật. Tôn trọng sự thật đời sống, đảm bảo tính xác thực của toàn bộ sự việc được kể lại đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối với sáng tác thuộc thể loại này. Vì vậy truyện kí được xếp vào thể loại văn học phi hư cấu.

2. Yếu tố kết hợp giữa trữ tình và tự sự trong tùy bút và tản văn

- Yếu tố tự sự trong tuỳ bút, tản văn là yếu tố kể chuyện, thể hiện qua việc ghi chép, thuật lại các sự việc, câu chuyện, chuỗi tình tiết liên quan tới hành vi, diễn biến tâm trạng, tình cảm của nhân vật hay lịch sử, phong tục được đề cập trong tác phẩm.

- Yếu tố trữ tình trong tuỳ bút, tản văn là yếu tố thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của cái tôi tác giả trong tuỳ bút hay của người kể chuyện, quan sát, miêu tả trong tản văn.

,..................

Xem đầy đủ nội dung trong file tải về

Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 11 Cánh diều năm 2026

SỞ GD VÀ ĐT ......

TRƯỜNG THPT ..............

HƯỚNG DẪN ÔN TẬP CUỐI HỌC KỲ II

(Năm học 2025 -2026)

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11

Thời gian làm bài: 90 phút

A. Phạm vi ôn thi giữa kì 2

Bài 5: TRUYỆN NGẮN

Bài 6: THƠ

ĐỌC

- Phân tích và đánh giá được một số yếu tố về hình thức (các chi tiết tiêu biểu, sự kết nối giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật,…); nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng, triết lý nhân sinh,…) của truyện ngắn hiện đại.

- Nêu được ý nghĩa, tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách đánh giá của cá

nhân đối với văn học và cuộc sống.

Nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ; giá trị thẩm mĩ của các yếu tố cấu tứ, ngôn từ; tình cảm, cảm xúc chủ đạo của người viết.

THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT

Nhận biết và phân tích được tác dụng của một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường trong khi nói và viết, từ đó, có ý thức và bước đầu biết vận dụng quy tắc ngôn ngữ một cách hiệu quả,

sáng tạo.

Nhận diện và phân tích được tác dụng một số biện pháp tu từ.

VIẾT

Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm

truyện.

Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ.

NÓI NGHE

Giới thiệu một tác phẩm truyện theo lựa

chọn cá nhân.

Giới thiệu một tác phẩm thơ theo lựa chọn

cá nhân.

B. Đề thi minh họa

ĐỀ SỐ 1

I.ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi

Nhiều lần thức giấc trong mùi hương rạo rực của ban đêm, tôi chợt phát hiện ra rằng Huế là một thành phố được dành cho cỏ. Tôi không hề có ý xúc phạm, chỉ muốn lưu ý thêm về vai trò của cỏ trong quy hoạch đô thị. Thật vậy, không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế. Đà Lạt cũng được xây dựng trên những ngọn đồi; nhưng ở đấy, hình tượng của cây anh đào và cây thông đã khiến người ta quên mất sự có mặt của cỏ dại.

[…]

Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới những gốc đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của tôi. Bay theo những bước chân lang thang của tôi là những con bướm, những cánh chuồn nghe ngày nắng lên tung tăng trong không gian, ghé cây này, vờn cây kia, trong một thành phố lúc nào cũng cổ xưa, văng vẳng điệu nhã nhạc của cung đình đã hoang phế. Đã nhiều năm, tôi chợt nhận ra rằng lũ chuồn chuồn, bươm bướm của tôi đã rời thành phố này mà đi đâu biệt tăm, chắc là chúng đã tìm đến một không gian khác yên tĩnh hơn, ít bị tiếng động làm choáng đầu hơn…

[…]

Mùa hạ, trong những khu vườn Huế, khí đất xông lên hùng mạnh, cỏ mọc xanh lạ thường. Trái cây sắp chín nằm chờ trên cành, và khắp đây đó trong vùng Kim Long, khói đốt cỏ tỏa ra mịt mùng xanh mờ một vùng ven sông. Trên một chiếc bình phong cổ khuất trong cây lá của một khu sân vắng vẻ còn dấu chạm lỗ chỗ của một câu đối nói đến những bầy chim nhạn thường về đậu kêu om sòm trên bãi sông Hương trước mặt nhà. Tôi lớn lên không hề thấy bóng chim nhạn ven sông này. Chắc cũng giống như lũ côn trùng kia, chúng đã di trú về một vùng đất nào yên tĩnh hơn. Nhưng liệu có nơi nào gọi là "yên tĩnh hơn" trên hành tinh này. Hình như càng ngày nó càng trở nên ồn ào hơn xưa; và đó cũng là lỗi của chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai.

Mùa thu trời trở gió heo may lành lạnh làm người ta tự nhiên thấy nhớ nhung một quê hương nào không biết. Vào mùa này, các văn nhân thường mở hội leo núi, mang theo túi thơ bầu rượu lên các đỉnh núi cao mừng tiết "Trùng Cửu". Núi đó có thể là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng hoặc những rừng thông vùng đồi Thiên An, và văn nhân có thể là Bà Huyện Thanh Quan, Tuy Lý Vương, Hàn Mặc Tử. Những văn nhân ngồi uống rượu trên đầu núi,nghe tiếng chuông chùa thánh thót trên thành phố dầm mình trong sương khói; đi thăm núi trở về, băng qua sườn đồi, vó ngựa còn thơm nồng hương cỏ, gọi lũ bướm bay theo. Thơ Tuy Lý Vương nói: "Minh triêu sất mã sơn đầu quá - Ngọa thính tùng thanh ức ngã sầu" (Sáng mai ruổi ngựa lên đầu núi - nghe thông reo chợt nhớ ta buồn).

Một thứ hạnh phúc kéo dài trong nhiều năm tháng thật khó có ở đời; hạnh phúc chỉ tồn tại trong từng khoảnh khắc. Đó là khoảnh khắc mà ta nằm buông mình trên cỏ, ngửa mặt nhìn từng áng mây chẳng biết bay về đâu. Vâng, chính đó là những áng mây mà người đời Đường đã từng thấy: "Bạch vân vô tận thi" (Phau phau mây trắng ngàn năm vẫn còn).

[…]

(Trích Miền cỏ thơm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, in trong Ai đã đặt tên cho dòng sông – Tinh tuyển bút kí hay nhất, NXB Hôi nhà văn, Hà Nội, 2010)

Câu 1. Văn bản trên viết về đề tài gì?

Câu 2. Theo tác giả, thành phố Huế có điều gì đặc biệt mà không nơi nào trên thế giới có được?

Câu 3. Cái “tôi” tác giả được biểu hiện như thế nào trong văn bản?

Câu 4. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai không? Vì sao?

Câu 5: Qua văn bản, nhà văn muốn gửi tới bạn đọc thông điệp gì?

II. LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong văn bản.

Câu 2 (4,0 điểm)

Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về vai trò của thiên nhiên đối với cuộc sống con người.

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

4,0

 

1

Đề tài: Cây cỏ ở thành phố Huế.

0.5

2

Theo tác giả, thành phố Huế có điều đặc biệt mà không nơi nào trên thế giới có được là: không nơi nào trên thế giới mà những công trình kiến trúc của con người lại mọc lên giữa cỏ hoang như ở Huế.

0.5

3

Cái “tôi” tác giả được biểu hiện trong văn bản là:

- Một cái “tôi” mê đắm và tài hoa.

- Một cái “tôi” yêu quê hương đất nước, gắn bó sâu đậm với xứ Huế.

Học sinh trả lời được 1 ý cho: 0,5 điểm

1.0

4

Học sinh được tự do bày tỏ quan điểm, có những lí giải thuyết phục. Tham khảo:

- Đồng tình.

- Lí giải:

+ Thiên nhiên là nơi con người có thể trở về, hòa mình trong đó để cho tâm hồn được thư thái, yên tĩnh.

+ Tuy nhiên, với tốc độ phát triển hiện nay, con người đang dần lấn chiếm thiên nhiên, và trong tương lai, rất có thể con cháu chúng ta sẽ không còn nơi nào để có thể trở về, hòa mình vào thiên nhiên, cho tâm hồn được yên bình, thư thái. Như vậy, quả thực chúng ta đã tước đoạt "quyền yên tĩnh" của thế hệ trẻ ngày mai.

Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt khác nhưng vẫn đảm bảo nội dung, giáo viên căn cứ vào mức độ cho điểm.

1.0

5

Qua văn bản, tác giả muốn gửi tới bạn đọc thông điệp:

- Trân trọng, tự hào về vẻ đẹp của quê hương, đất nước.

- Có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ thiên nhiên.

Lưu ý: Học sinh chỉ nêu thông điệp mà không giải thích, giáo viên cho 0,5 điểm.

1.0

Xem đầy đủ nội dung trong file tải về

Đề cương giữa kì 2 Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo

TRƯỜNG THPT………

BỘ MÔN: NGỮ VĂN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA HỌC KỲ II

NĂM HỌC 2025 – 2026

MÔN: VĂN, KHỐI 11

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Văn bản:

- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện ngắn hiện đại: không gian, thời gian, câu chuyện, nhân vật, người kể chuyện ngôi thứ ba và người kể chuyện ngôi thứ nhất, sự thay đổi điểm nhìn, sự nối kết giữa lời người kể chuyện, lời nhân vật,...

- Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân đối với văn học và cuộc sống; so sánh được hai văn bản văn học viết cùng đề tài ở các giai đoạn khác nhau; liên tưởng, mở rộng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được đọc.

- Vận dụng được những hiểu biết về tác giả Nguyễn Du để đọc hiểu một số tác phẩm của ông.

- Nhận biết và phân tích một số yếu tố của truyện thơ Nôm: cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, độc thoại nội tâm, bút phát miêu tả, ngôn ngữ,...

- Nhận xét những chi tiết quan trong trong việc thể hiện nội dung văn bản.

a. Truyện ngắn

Nội dung

Kiến thức

1. Khái niệm

Truyện ngắn là thể loại tự sự hư cấu có dung lượng nhỏ, thường phù hợp để đọc hết trong một lần. Với quy mô hạn chế, số lượng nhân vật và sự kiện ít, truyện ngắn chỉ tập trung miêu tả một khía cạnh hoặc trạng thái cụ thể của đời sống xã hội.

2. Cốt truyện

Thường đơn giản, cô đúc; tập trung xoay quanh một tình huống. Trong đó, các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo hướng tập trung vào một vài biến cố chính, dồn nên mâu thuẫn trong một khoảng thời gian ngắn.

3. Điểm nhìn ngôi thứ ba

Điểm nhìn ngôi thứ ba toàn tri

Tầm hiểu biết của người kể chuyện bao trùm toàn bộ thế giới nhân vật, không bị giới hạn trong cái nhìn của nhân vật nào, thấu suốt tất cả suy nghĩ và cảm xúc của các nhân vật, tất cả mọi thời điểm, địa điểm và sự kiện.

Điểm nhìn ngôi thứ ba hạn tri

Tầm hiểu biết của người kể chuyện chỉ giới hạn trong cái nhìn của một nhân vật trung tâm, chỉ thấu suốt suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật đó và các sự kiện mà nhân vật đó biết.

4. Sự thay đổi điểm nhìn

- Trong nhiều tác phẩm truyện hiện đại, thường có sự di chuyển điểm nhìn kể chuyện, có thể từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba, từ ngôi thứ ba hạn tri sang toàn tri, hoặc giữa nhiều ngôi thứ nhất khác nhau.

- Tác dụng: thể hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả dẫn dắt độc giả vào thế giới tinh thần của nhân vật; quan sát, thể hiện sự việc, con người từ nhiều góc nhìn...

5. Nhân vật

Truyện ngắn hiện đại thường chỉ có 1 – 2 nhân vật chính – tức nhân vật hiện lên như một chủ thể độc lập, giữ vai trò chủ đạo trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm – được khắc họa qua ngoại hình, hành động đối thoại, độc thoại nội tâm và qua đánh giá của các nhân vật khác cũng như của người kể chuyện.

Truyện thơ Nôm

Nội dung

Kiến thức

1. Điểm nhìn

Truyện thơ thường sử dụng điểm nhìn ngôi thứ ba toàn tri . Tuy nhiên, trong một số trường hợp, truyện thơ cũng sử dụng điểm nhìn ngôi thứ ba hạn tri từ một số nhân vật như điểm nhìn của nhân vật “anh” trong Tiễn dặn người yêu (truyện thơ dân tộc Thái) hoặc điểm nhìn của nhân vật Thuý Kiều ở một số đoạn trong Truyện Kiều (Nguyễn Du).

2. Nhân vật và đối thoại, độc thoại nội tâm

Nhân vật thường được khắc họa không chỉ thông qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, hành động mà còn qua ngôn ngữ giao tiếp và đời sống nội tâm của nhân vật, tức là thông qua đối thoại, độc thoại nội tâm.

3. Bút pháp miêu tả nội tâm

Việc miêu tả nội tâm của nhân vật trong truyện thơ Nôm bác học có thể thực hiện theo nhiều cách:

- Bằng lời đối thoại, độc thoại của chính nhân vật bằng những dòng thơ miêu tả phong cảnh thiên nhiên, hay kể, tả về hành vi, cử chỉ của nhân vật.

- Qua các dòng thơ mà người kể chuyện trực tiếp nhận xét, phân tích trạng thái tâm lí, cảm xúc của nhân vật.

- ...

Bảng hệ thống hóa thông tin về các văn bản đọc

Bài

Văn bản

Tác giả

Loại, thể loại

Đặc điểm nổi bật

Nội dung

Hình thức

6

Chiều sương

Bùi Hiển

Truyện ngắn

Tác phẩm không chỉ miêu tả cảnh vật thiên nhiên mà còn tập trung vào những đức tính tốt đẹp của con người trong cuộc sống lao động. Qua câu chuyện, người đọc cảm nhận được sự vất vả, khó khăn, và sự gan dạ, kiên trì của người chài trong việc đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt.

- Cốt truyện đơn giản

- Xây dựng tâm lí nhân vật tinh tế

- Có sự kết hợp giữa thực và ảo tạo ra một không khí gần gũi và ấm áp mà không gây cảm giác lạnh lẽo hay sợ hãi.

Muối của rừng

Nguyễn Huy Thiệp

Truyện ngắn

Truyện ngắn đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về nạn săn bắt động vật trái phép. Con người cần ý thức bảo vệ các loài động vật nói riêng và bảo vệ thiên nhiên nói chung để góp phần làm cuộc sống tốt đẹp hơn.

- Cốt truyện đơn giản, ngắn gọn

- Tình tiết hấp dẫn, xung đột, kịch tính

- Nhân vật chân thực, sinh động

- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi.

B. Đề thi minh họa giữa kì 2 Ngữ văn 11

ĐỀ MINH HỌA SỐ 1

A. PHẦN ĐỌC HIỂU (5.0 điểm)

Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:

NƠI DỰA

Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia ?

Khuôn mặt trẻ đẹp chim vào những miền xa nào..

Đứa bé đang lẫm chẫm muôn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ.

Và cái miệng líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có.

Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống.

Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia?

Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết.

Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh bước tìmg bước run rẩy.

Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời.

Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơii dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.

(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội, 1983)

Câu 1 (1.0 điểm): Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản trên.

Câu 2 (1.0 điểm): Xác định các dạng của phép điệp trong văn bản trên và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.

Câu 3 (1.0 điểm): Hãy chỉ ra nghịch lí trong hai câu in đậm của văn bản trên.

Câu 4 (2.0 điểm): Qua văn bản trên, anh/ chị hiểu thế nào là nơi dựa của mỗi con người trong cuộc đời?

PHẦN VIẾT (5.0 điểm)

Câu 1 (5.0 điểm): Phân tích 8 câu cuối trong đoạn trích Trao duyên.

ĐỀ MINH HỌA SỐ 2

I.PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

CA HUẾ

(1)Ca Huế khởi nguồn từ hát cửa quyền trong cung vua phủ chúa, với hình thức diễn xướng mang tính bác học, dành cho giới thượng lưu say mê nghệ thuật. Theo thời gian, lối hát thính phòng này dần được dân gian hóa để có điều kiện đến với nhiều tầng lớp công chúng. […]
(2)Môi trường diễn xướng của ca Huế thường ở trong một không gian hẹp, số lượng người trình diễn và người nghe hạn chế, do tính chất của âm nhạc mang tính tâm tình, tự sự. Ca Huế không trình diễn trước đám đông hoặc hát dưới ánh mặt trời. Số lượng người trình diễn cho buổi ca Huế có khoảng từ 8 đến 10 người, trong đó số lượng nhạc công từ 5 đến 6 người. Ca sĩ, nhạc công sẽ hòa đàn và hát các bài bản trong các nhạc mục của ca Huế. Biên chế của dàn nhạc phải sử dụng đạt chuẩn 4 hoặc 5 nhạc cụ trong dàn ngũ tuyệt cổ điển, bao gồm: đàn nguyệt, đàn tì bà, đàn nhị, đàn tranh, đàn tam và tùy theo từng trường hợp, có thể không có cây đàn tam mà bổ sung thêm cây đàn bầu với đầy đủ biên chế của dàn ngũ tuyệt, hoặc có thể dùng dàn tứ tuyệt bao gồm các nhạc cụ: nguyệt, nhị, tì và đàn tranh hoặc đầy đủ hơn là dàn lục ngự: tam, tì, nhị, nguyệt, tranh, bầu.

Trình diễn ca Huế là một buổi tao ngộ giữa các tao nhân mặc khách có hiểu biết về văn hóa và âm nhạc. Buổi biểu diễn không bị lệ thuộc vào quy trình cứng nhắc giữa người thưởng thức và người trình diễn mà có sự hiểu biết lẫn nhau giữa chủ và khách, thể hiện bằng hai phong cách:

-Biểu diễn truyền thống: người biểu diễn và người thưởng thức có mối quan hệ thân thiết, có quen biết nhau hoặc có nghe về tài biểu diễn của nhau. Họ cùng ở trong một địa bàn hoặc đến từ các vùng miền khác nhau, am hiểu về ca Huế. Buổi biểu diễn được xen kẽ với các nhận xét, đánh giá, bình phẩm giống như một cuộc tọa đàm nhỏ về nghệ thuật ca Huế.

-Biểu diễn cho du khách: có người giới thiệu chương trình, quá trình hình thành, phát triển cũng như giá trị của ca Huế với các tiết mục biểu diễn minh họa của nghệ nhân. Hình thức này chỉ mới xuất hiện trong nửa cuối thế kỉ XX, là loại hình biểu diễn ca Huế trong các hội làng, cưới hỏi, và sau này, phổ biến trong dịch vụ du lịch trên sông Hương.

Ca Huế được các nghệ nhân tài danh sáng tạo, bổ sung, tạo thành hệ thống bài bản, phong phú, với giai điệu hoàn chỉnh, mang tính nghệ thuật cao, lời ca giàu chất văn học, kĩ thuật ca hát tinh tế, điêu luyện, nhạc đệm hoàn hảo. […]

(3)Là thể loại âm nhạc kết hợp giữa dân gian, chuyên nghiệp và bác học của ca nhạc thính phòng, một thể loại âm nhạc đỉnh cao trong toàn bộ các di sản âm nhạc truyền thống Việt Nam, ca Huế đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo quyết định số 1877/QĐ-BVVTTDL ngày 08 tháng 6 năm 2015.

(Theo Cục di sản văn hóa, dsvh.gov.vn)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.

Câu 2. Theo văn bản, ca Huế có nguồn gốc từ đâu?

Câu 3. Nêu nội dung khái quát của văn bản trên.

Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong câu văn:

“Biên chế của dàn nhạc phải sử dụng đạt chuẩn 4 hoặc 5 nhạc cụ trong dàn ngũ tuyệt cổ điển, bao gồm: đàn nguyệt, đàn tì bà, đàn nhị, đàn tranh, đàn tam và tùy theo từng trường hợp, có thể không có cây đàn tam mà bổ sung thêm cây đàn bầu”.

Câu 5. Sau khi đọc văn bản, anh/ chị có những nhận xét gì về hoạt động ca Huế?

II.PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/ chị về về việc giữ gìn vẻ đẹp văn hóa truyền thống của thế hệ trẻ hiện nay.

Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá về chủ đề và một số nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ dưới đây.

VỘI VÀNG

(Xuân Diệu)

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Tôi sung sướng.
Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

(Theo Thơ thơ, NXB Đời nay, Hà Nội, 1938)

,...........

Xem đầy đủ nội dung đề cương trong file tải về

Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Thanh
Liên kết tải về
Tìm thêm: Ngữ văn 11
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo