Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học 9 Mẫu sáng kiến kinh nghiệm lớp 9

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học 9 là tài liệu vô cùng hữu ích gồm 20 trang, giúp quý thầy cô tham khảo, dễ dàng hoàn thiện bản sáng kiến kinh nghiệm cho riêng mình thật chỉn chu.

SKKN Giải pháp tạo hứng thú cho học sinh nâng cao chất lượng môn Sinh học 9 giúp giáo viên hiểu rõ cách xây dựng, trình bày và triển khai một sáng kiến khoa học, logic và hiệu quả. Mẫu SKKN Sinh học lớp 9 không chỉ nâng cao năng lực tự học, sáng tạo của học sinh còn giúp giáo viên nâng cao kỹ năng nghiên cứu sư phạm, phát huy tính sáng tạo và áp dụng các phương pháp dạy học mới vào thực tế lớp học. Nhờ đó, giáo viên không chỉ hoàn thiện tốt hơn các sáng kiến của mình mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài ra quý thầy cô tham khảo thêm:

Sáng kiến kinh nghiệm Giải pháp tạo hứng thú cho học sinh nâng cao chất lượng môn Sinh học 9

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác giữa thầy và trò. Trong đó, trò (học sinh) là chủ thể của hoạt động “học” và cũng là đối tượng của hoạt động “dạy”, học sinh sẽ được cuốn hút vào các hoạt động học do GV định hướng, tổ chức và thực hiện. Từ đó, học sinh sẽ khám phá kiến thức từ các hoạt động trải nghiệm một cách chủ động chứ không phải lĩnh hội một cách thụ động theo một chiều từ người dạy. Vì thế, đổi mới phương pháp dạy học để học sinh hứng thú, chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là vấn đề cần thiết, quan trọng và không thể thiếu được đối với người thầy.

Bộ môn Sinh học là môn khoa học thực nghiệm có vị trí quan trọng trong hệ thống tri thức nhân loại, có ý nghĩa thiết thực với đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế của con người. Kiến thức Sinh học là nguồn kiến thức mở và luôn có sự đổi mới. Chương trình Sinh học THCS giúp học sinh có cái nhìn mới mẻ về thế giới tự nhiên thông qua việc tri giác các đặc điểm cấu tạo hình thái, đến khám phá các hoạt động sinh lí của thực vật, động vật và con người. Muốn để Sinh học thực sự gây được sự hứng thú thì bản thân nội dung môn học chưa đủ sức thu hút đối với các em, bởi vì một bộ phận không nhỏ học sinh và phụ huynh coi đây là môn phụ nên không chú trọng, chỉ học mang tính chất đối phó nên không hiệu quả.

Mặt khác, bản thân một số giáo viên còn ngại đầu tư và phát triển bộ môn, chưa tích cực trong các hoạt động tổ chức dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá để thu hút học sinh. Còn tình trạng dạy chay không chuẩn bị đồ dùng trang thiết bị phương tiện dạy học, hoặc có sử dụng nhưng chưa thực sự hiệu quả.

Trong khi đó, hiện nay dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh thông qua các môn học nói chung và bộ môn Sinh học nói riêng đòi hỏi người giáo viên phải năng động, lựa chọn, kết hợp phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm tạo hứng thú cho học sinh và góp phần nâng cao chất lượng bộ môn; đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục một cách căn bản, toàn diện. Việc tổ chức các hoạt động học của người học phải là trọng điểm của quá trình dạy học, giáo dục để đạt được mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đề ra và vận dụng: “Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học THCS ”

2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Nhằm giúp học sinh THCS đặc biệt ở lớp 9 tạo hứng thú cho học sinh và giúp các em học sinh có thêm phương pháp học tập tích cực để nâng cao kết quả học tập của học sinh theo thời gian.

3. Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 9, đặc biệt là các em học sinh lớp 9/1, 3, 7,9,15,16 năm học 20... – 20...; lớp 9/1, 3, 6, 9, 14, 16 năm học 20... - 20... mà tôi được phân công giảng dạy bộ môn Sinh học ở những năm học vừa qua.

4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về đề tài “Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học THCS”.

5. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát.

- Phương pháp phân tích, tổng hợp.

- Phương pháp thống kê.

- Phương pháp kiểm tra, đối chứng kết quả…

- Phương pháp thực nghiệm

II. PHẦN NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận

- Theo tâm lí học: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng đem lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động”. Hứng thú của cá nhân được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn. Hứng thú giúp con người năng động và sáng tạo hơn, phát triển đầy đủ các phẩm chất và năng lực.

- Dạy học và giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực là sự tích lũy dần dần các biểu hiện, yếu tố phẩm chất năng lực của người học; từ đó góp phần chuyển hóa và hình thành nhân cách cho học sinh.

+ Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở hành vi, thái độ của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh phổ thông gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm.

+ Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ các tố chất và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện đạt kết quả trong những hoạt động cụ thể, nhất định. Năng lực được hình thành bao gồm: năng lực chung và năng lực đặc thù.

Có thể thấy, dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong giáo dục phổ thông nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia nói chung. Trong hoạt động học tập muốn tạo được hứng thú cho người học, GV phải là người chủ đạo tổ chức các hoạt động học tập, khám phá kiến thức để khơi dậy niềm đam mê, sáng tạo của học sinh. Khi đã có hứng thú trong học tập, học sinh sẽ năng động, sáng tạo hơn thúc đẩy phát triển toàn diện các năng lực sẵn có; kết quả học tập dần được nâng cao.

2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Như vậy, Số lượng học sinh hứng thú với môn học còn thấp, do có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả trên:

- Thứ nhất là học sinh: Một bộ phận học sinh coi đây là môn phụ nên chưa chú trọng trong học tập, thường xuyên không học bài và chuẩn bị bài, ít tham gia vào các hoạt động học tập hoặc có tham gia một cách hời hợt. Một số khác thì có học nhưng mang tính chất đối phó nên hiệu quả không cao.

- Thứ hai là phụ huynh: Phụ huynh có ảnh hưởng rất lớn tới hứng thú cũng như khả năng tham gia hoạt động học tập của học sinh. Phụ huynh thường chỉ hướng và chú trọng con em mình học các môn văn hóa chính như: Toán, Văn, Anh; còn đối với môn Sinh học chỉ coi đây là môn phụ nên không nhắc nhở và đôn đốc con em học bài. Một số phụ huynh đi làm ăn xa, gửi con ở nhà với ông bà nên cũng chưa phối hợp quan tâm đến việc học của con.

- Thứ ba là giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên tìm tòi, đổi mới và trau dồi chuyên môn nghiệp vụ; nhưng một số giáo viên còn ngại chuẩn bị vẫn dạy theo kiểu truyền thụ một chiều nên chưa cuốn hút học sinh vào hoạt động học, chưa tạo được hứng thú cho học sinh.

Như vậy, việc tổ chức các hoạt động học của người học phải là trọng điểm của quá trình dạy học, giáo dục để đạt được mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực và hứng thú của học sinh, từ đó mới khắc phục được tâm lí của phụ huynh và học sinh và góp phần nâng cao chất lượng môn học.

3. Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học.

3.1. Giải pháp thứ nhất: Đổi mới về phương pháp dạy học.

Để giờ dạy đạt được hiệu quả, trước hết người giáo viên phải tạo được hứng thú học tập cho học sinh, cuốn hút các em vào giờ học, từ đó các em sẽ yêu thích môn học. Khi đã yêu thích, thì tâm thế trong giờ học sẽ thay đổi vui vẻ, thoải mái hơn; học sinh sẽ chú ý học, sôi nổi phát biểu, hăng say xây dựng nghiên cứu bài học. Từ đó, giúp học sinh học bài nhớ lâu và vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế; góp phần năng cao chất lượng bộ môn.

Để làm tốt được điều này, tôi đã lồng ghép, thay đổi nhiều hoạt động trong từng phần của bài học.

Ví dụ:

- Phần khởi động

Có thể đưa ra các câu hỏi tình huống có vấn đề → kích thích các em sự tò mò muốn khám phá. Hoặc tổ chức các trò chơi vận động → Tạo tâm thế vui vẻ, thoái mái trước khi vào bài học.

- Phần hình thành kiến thức: Sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học; sử dụng hiệu quả các phương tiện trực quan→ Giúp học sinh lĩnh hội kiến thức.

- Phần vận dụng, củng cố: Đưa ra các vấn đề vận dụng thực tế ở địa phương, hoặc lồng ghép bằng những mẩu chuyện vui mang tính chất giáo dục có liên quan đến bài học.

Ngoài ra, để tạo hứng thú và nâng cao chất lượng bộ môn, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau và thấy đạt được những hiệu quả rõ rệt.

a. Ứng dụng giáo dục STEM.

Giáo dục STEM là mô hình giáo dục dựa trên cách tiếp cận liên môn, giúp học sinh áp dụng các kiến thức khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học vào giải quyết một số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể.

Đối với các môn khoa học tự nhiên nói chung và môn Sinh học nói riêng, nội dung chủ đề STEM gắn với việc giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề, trong đó học sinh được tổ chức tham gia học tập một cách tích cực, chủ động và biết vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết các vấn đề đặt ra, thông qua đó tạo hứng thú cho học sinh, giúp hình thành phẩm chất, phát triển năng lực cho học sinh.

Nội dung giáo dục STEM có thể thông qua:

- Bài học STEM

- Hoạt động trải nghiệm STEM

- Đề tài/ dự án nghiên cứu khoa học, kĩ thuật.

· Cách tiến hành:

Tiến trình tổ chức chủ đề STEM có thể được rút gọn theo 5 hoạt động như sau:

1. Xác định vấn đề STEM

2. Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp

3. Lựa chọn giải pháp

4. Chế tạo mẫu thử nghiệm, đánh giá

5. Chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh

Các hoạt động trong quy trình có thể không cần thực hiện một cách tuần tự mà đồng thời tương hỗ lẫn nhau. Các hoạt động học có thể tổ chức linh hoạt trong và ngoài lớp học theo nội dung, phạm vi kiến thức của từng chủ đề. Mỗi hoạt động học được thiết kế rõ ràng về: Mục tiêu; nội dung; dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh; cách thức tổ chức hoạt động.

Hoạt động học 1: Xác định vấn đề

Giáo viên giao nhiệm vụ học tập chứa đựng vấn đề. Trong đó học sinh phải hoàn thành một sản phẩm học tập hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể với các tiêu chí đòi hỏi học sinh phải sử dụng kiến thức mới trong nội dung được học để đề xuất xây dựng giải pháp. Tiêu chí của sản phẩm là yêu cầu hết sức quan trọng, buộc học sinh phải nắm vững kiến thức mới thiết kế, giải thích cho sản phẩm cần làm.

Hoạt động học 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp

Giáo viên hướng dẫn tổ chức một cách linh hoạt tăng cường mức độ tự lực tùy thuộc từng đối tượng học sinh. Khuyến khích học sinh hoạt động tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức để sử dụng vào việc đề xuất thiết kế sản phẩm.

Hoạt động 3: Lựa chọn giải pháp

Học sinh thảo luận sau đó trình bày, sử dụng kiến thức mới học và kiến thức đã có để thuyết minh, giải thích bảo vệ bản thiết kế của mình. Giáo viên góp ý, chỉnh sửa và xác thực tính chính xác của thuyết minh để học sinh nắm vững kiến thức mới và tiếp tục hoàn thiện sản phẩm.

Hoạt động học 4. Chế tạo mẫu thử nghiệm, đánh giá

Học sinh tiến hành chế tạo, thử nghiệm. GV hướng dẫn học sinh đánh giá mẫu và hoàn thiện bản thiết kế ban đầu để đảm bảo tính khả thi của mẫu thiết kế.

....................

Xem đầy đủ nội dung sáng kiến kinh nghiệm trong file tải về

Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Thanh
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo