Viết bài văn nghị luận so sánh đánh giá hai tác phẩm truyện Chí Phèo và Lão Hạc Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện Chí Phèo và Lão Hạc là tài liệu tham khảo hữu ích, cung cấp cho học sinh những gợi ý về cách phân tích, so sánh và đánh giá hai tác phẩm văn học của nhà văn Nam Cao. Đây là dạng bài đòi hỏi người viết không chỉ nắm chắc nội dung, nghệ thuật của từng tác phẩm mà còn biết tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt để làm nổi bật giá trị riêng của mỗi tác phẩm. 

Mời các em cùng tham khảo cách làm bài và 2 mẫu bài văn nghị luận so sánh, đánh giá Chí Phèo và Lão Hạc dưới đây để có thêm ý tưởng, vốn từ và phương pháp triển khai bài viết thật đầy đủ, mạch lạc và thuyết phục. 

1. Hướng dẫn phân tích đề

  • Kiểu bài: nghị luận văn học
  • Đối tượng: hai tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo và Lão Hạc của Nam Cao.

2. Dàn ý

a. Mở bài

Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá, nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này.

b. Thân bài

- Thông tin chung về từng sản phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,..

- Những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm truyện và nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng ấy.

- Những điểm khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy.

- Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện, khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.

c. Kết bài

Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh.

3. Gợi ý ý tưởng hay

  • So sánh về nội dung, nghệ thuật
  • So sánh về nhân vật

4. Từ ngữ hay

  • tương đồng
  • cùng thể hiện
  • cùng hướng tới
  • đều cho thấy
  • có điểm gặp gỡ
  • cùng mang giá trị
  • sâu sắc
  • ám ảnh
  • giàu giá trị nhân văn
  • giàu sức gợi
  • chân thực
  • tinh tế
  • độc đáo

5. Mẫu tham khảo

Mẫu số 1

Nam Cao là những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam. Chí Phèo và Lão Hạc là hai truyện ngắn tiêu biểu của ông, có những nét tương đồng nhưng cũng mang dấu ấn riêng.

Chí Phèo và Lão Hạc được sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945. Dựa vào những cảnh thật, người thật mà Nam Cao được chứng kiến và nghe kể về làng Đại Hoàng.

Truyện Chí Phèo vào tháng 2 năm 1941. Nội dung kể về Chí Phèo - một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trong một cái lò gạch cũ, được người làng thay nhau nuôi. Lớn lên, Chí đi ở hết nhà này tới nhà nọ, trong đó có nhà bá Kiến. Vì một chuyện ghen tuông, bá Kiến đẩy Chí vào tù. Ở tù về, Chí trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chí Phèo bị bá Kiến lợi dụng, trở thành tay sai cho lão, chuyên vạch mặt ăn vạ và gây tai họa cho người trong làng. Cuộc gặp gỡ với thị Nở khiến Chí Phèo khao khát được làm người lương thiện. Nhưng bà cô của thị Nở và cái xã hội đương thời đã chặn đứng đường về “cõi người” của Chí Phèo. Tuyệt vọng, hắn tìm giết Bá Kiến và tự sát. Nghe tin Chí chết, thị Nở nhìn xuống bụng và thầm nghĩ đến một cái lò gạch bỏ không vắng người qua lại.

Còn truyện Lão Hạc được đăng trên báo lần đầu năm 1943. Truyện kể về lão Hạc - một người nông dân nghèo khổ sống. Lão có một đứa con trai nhưng vì nhà nghèo, không có tiền lấy vợ nên bỏ đi đồn điền cao su. Cả gia tài của lão chỉ có mảnh vườn vốn là của hồi môn của con trai và con chó Vàng sống cùng để bầu bạn. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì để ăn. Lão đành phải bán con Vàng đi. Số tiền bán chó và bán mảnh vườn, lão đem gửi ông giáo và nhờ khi nào anh con trai về sẽ trao lại cho anh. Còn bản thân thì đến xin Binh Tư một ít bả chó, nói dối là để đánh bả con chó nhưng thực ra là để tự tử.

Cả hai tác phẩm truyện đều viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Qua đó, Nam Cao đã khắc họa số phận bất hạnh của họ cùng với hiện thực xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Đồng thời, nhà văn thể hiện thái độ đồng cảm, thương xót cho số phận của họ. Cả hai truyện đều giàu giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, cũng như thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy với những nét độc đáo về nghệ thuật như miêu tả tâm lí, khắc họa nội tâm nhân vật.

Song, Chí Phèo và Lão Hạc đều có những nét riêng. Trong Lão Hạc, nhân vật lão Hạc hiện lên là một người nông dân lương thiện, giàu lòng tự trọng. Lão Hạc là một ông nông dân già yếu, không nơi nương tựa; sống một mình, tự kiếm ăn nuôi thân, con trai bỏ đi đồn điền cao su. Sau một trận ốm, trong nhà không còn gì để ăn, lão quyết định bán cậu Vàng - kỉ vật mà anh con trai để lại, không chỉ là một con vật mà còn giống như một người bạn. Sau khi bán cậu Vàng, lão Hạc vô cùng đau khổ, ân hận và day dứt. Lão quyết định tìm đến cái chết, đến xin Binh Tư bả chó để bắt một con chó, nhưng thực chất là để tự tử. Có thể thấy, lão Hạc là một người nông dân có lòng tự trọng. Lão cùng là một người cha hết mực yêu thương con, thà chết đi cũng không muốn đụng đến của hồi môn của con. Từ đầu đến cuối, lão Hạc vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp, lương thiện. Có thể thấy, lão Hạc đã khắc họa chân thực cuộc đời của người nông dân Việt Nam trước cách mạng cùng với đó là phẩm chất cao quý của họ.

Còn trong truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng hình tượng Chí Phèo trở thành nhân vật điển hình. Chí Phèo là hiện tượng có tính quy luật trong xã hội đương thời, là sản phẩm của tình trạng đè nén, áp bức ở nông thôn trước Cách mạng. Chí Phèo đại diện cho người nông dân hiền lành đã bị nhà tù thực dân biến thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Trước đó, Chí Phèo vốn là một người nông dân lương thiện, đi ở cho nhà bá Kiến. Chỉ vì một chuyện ghen tuông, bá Kiến đã đẩy Chí vào tù. Chính bà Kiến đã tiếp tay cho nhà tù thực dân đẩy Chí vào con đường tha hóa. Ở tù về, Chí Phèo thay đổi cả về nhân hình lẫn nhân tính, dần bị bá Kiến biến thành tay sai. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã đánh thức bản chất lương thiện của Chí, hắn khao khát trở về làm người lương thiện. Nhưng rồi do bà cô của Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo. Bà cô đại diện cho những định kiến trong xã hội xưa đã tước đoạt đi quyền làm người của Chí. Để rồi, Chí uống rượu rồi xách dao đên nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát. Qua truyện ngắn này, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, đó là một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thế xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay cả trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính.

Chí Phèo và Lão Hạc của Nam Cao có nét tương đồng nhưng cũng có nét riêng. Cả hai tác phẩm truyện đều thể hiện được tư tưởng cũng như tài năng của nhà văn Nam Cao.

Mẫu số 2

Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, hiện thực nông thôn với số phận người nông dân bị áp bức, bần cùng luôn là nguồn cảm hứng lớn của nhiều cây bút hiện thực phê phán. Nếu Ngô Tất Tố có Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan có Bước đường cùng, thì Nam Cao là nhà văn tiêu biểu với hai tác phẩm để đời: Chí Phèo và Lão Hạc. Cùng khắc họa cuộc sống cơ cực của người nông dân, hai truyện ngắn đã để lại những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, đồng thời khẳng định tài năng nghệ thuật độc đáo của Nam Cao – “người suốt đời đi tìm kiếm và ca ngợi con người”.

Tác phẩm Chí Phèo xoay quanh cuộc đời bi kịch của một nông dân hiền lành, lương thiện nhưng bị xã hội thực dân – phong kiến tha hóa, đẩy đến con đường lưu manh hóa. Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” và chỉ đến khi gặp Thị Nở, bản tính lương thiện mới bừng tỉnh. Tuy nhiên, xã hội lại cự tuyệt quyền làm người của anh, đẩy anh đến cái chết bi thảm. Lão Hạc lại kể về một người nông dân nghèo khổ, già nua, mất vợ, con trai bỏ đi, chỉ còn con chó Vàng làm bạn. Vì quá nghèo, không muốn bán mảnh vườn – tài sản duy nhất để lại cho con, lão phải bán chó. Sự dằn vặt khiến lão đau đớn, cuối cùng tìm đến cái chết dữ dội bằng bả chó.

Trước hết, cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Đó là nơi những người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng bởi nghèo đói, áp bức và bất công. Nếu Chí Phèo bị cướp mất nhân tính, trở thành kẻ lưu manh, thì Lão Hạc bị dồn vào cảnh bần cùng, không còn con đường sống. Cả hai số phận đều là minh chứng điển hình cho bi kịch của người nông dân trước cách mạng.

Điểm chung thứ hai là ở giá trị nhân đạo sâu sắc. Nam Cao không chỉ lên án xã hội tàn nhẫn mà còn khẳng định phẩm chất lương thiện của người nông dân. Dù bị tha hóa, trong sâu thẳm, Chí Phèo vẫn khao khát làm người lương thiện, vẫn rung động trước bát cháo hành của Thị Nở. Còn Lão Hạc, dù nghèo đói đến đường cùng, vẫn một lòng nghĩ đến con trai, nhất quyết giữ mảnh vườn cho con, chấp nhận cái chết thê thảm để bảo toàn tình phụ tử. Nam Cao đã phát hiện ra “con người” trong những kiếp người tưởng như đã bị vùi dập tận cùng.

Cả hai truyện ngắn cũng cho thấy nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy của Nam Cao. Ông không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện mà đi sâu vào những giằng xé nội tâm, những khoảnh khắc bùng nổ cảm xúc. Với Chí Phèo là tiếng kêu “Ai cho tao lương thiện?”, với Lão Hạc là sự xót xa khi kể chuyện bán chó với ông giáo. Chính chiều sâu tâm lý đã làm nên sức sống lâu bền cho hai tác phẩm.

Tuy có nhiều điểm chung, Chí Phèo và Lão Hạc lại khác biệt ở phương diện khắc họa bi kịch. Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bị xã hội tha hóa nhân tính. Nhân vật từ chỗ lương thiện bị đẩy thành lưu manh, rồi lại khao khát trở về làm người nhưng không được chấp nhận. Ngược lại, Lão Hạc là bi kịch của một người nông dân lương thiện đến cùng cực, quá nghèo khổ, bế tắc nên chọn cái chết để giữ trọn nhân phẩm.

Khác biệt nữa ở phương thức thể hiện. Chí Phèo gay gắt, dữ dội, với nhiều xung đột căng thẳng: tiếng chửi của Chí, những trận rạch mặt ăn vạ, cuộc rượu điên cuồng, cái chết đẫm máu. Trong khi đó, Lão Hạc lại thấm thía, nhẹ nhàng, buồn thương, được kể qua lời của ông giáo, với những chi tiết bình dị như bữa cơm rau, bát khoai, chú chó Vàng, cái chết bằng bả chó. Một bên là tiếng gào thét dữ dội, một bên là tiếng nấc nghẹn ngào.

Ngoài ra, Chí Phèo tiêu biểu cho phong cách hiện thực phê phán mạnh mẽ của Nam Cao, còn Lão Hạc lại thiên về cảm hứng trữ tình, chan chứa lòng thương cảm. Chính sự khác biệt này làm cho mỗi tác phẩm mang một giá trị thẩm mỹ riêng, góp phần hoàn thiện bức tranh hiện thực và nhân đạo của Nam Cao.

Có thể thấy Chí Phèo và Lão Hạc đều là hai đỉnh cao trong sáng tác của Nam Cao. Một mặt, chúng phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đầy bất công đã chà đạp lên cuộc đời người nông dân. Mặt khác, chúng khẳng định nhân cách cao đẹp của những con người ấy: dù bị tha hóa hay nghèo khổ, họ vẫn khao khát lương thiện, khao khát tình người. Nam Cao đã chứng minh cái nhìn nhân đạo nhất quán của mình: đi sâu vào những cảnh đời tăm tối nhất để tìm ánh sáng của nhân tính. Đồng thời, sự kết hợp tài tình giữa bút pháp hiện thực và phân tích tâm lý đã đưa Nam Cao trở thành “bậc thầy của truyện ngắn Việt Nam hiện đại”.

Chí Phèo và Lão Hạc không chỉ là hai tác phẩm tiêu biểu cho văn nghiệp Nam Cao, mà còn là hai tiếng nói lớn của văn học hiện thực 1930 – 1945. Một bên là tiếng kêu uất nghẹn dữ dội của kẻ bị xã hội cự tuyệt quyền làm người, một bên là tiếng nấc đau thương của người nông dân nghèo giữ trọn nhân phẩm. Cả hai đều để lại cho người đọc bài học sâu sắc: hãy trân trọng con người, hãy đấu tranh để bảo vệ quyền được sống và làm người. Chính nhờ những giá trị hiện thực và nhân đạo ấy, Chí Phèo và Lão Hạc vẫn sống mãi với thời gian, trở thành những viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.

Mẫu số 3

Trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nam Cao là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất, với hai tác phẩm nổi tiếng "Chí Phèo" và "Lão Hạc". Cả hai đều phản ánh sâu sắc số phận của những con người nghèo khổ, bị đẩy vào đường cùng trong xã hội phong kiến thực dân tàn bạo. Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại mang một cách thể hiện riêng biệt, với những hình ảnh nhân vật, bối cảnh và thông điệp khác nhau. Qua sự so sánh giữa hai tác phẩm này, ta có thể thấy rõ sự tài năng của Nam Cao trong việc khắc họa số phận con người và tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

Trước hết, về nhân vật chính, cả Chí Phèo và Lão Hạc đều là những người nông dân nghèo, bị xã hội vùi dập đến mức mất đi ý nghĩa cuộc sống. Chí Phèo từng là một thanh niên lương thiện, có ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, do bị Bá Kiến đẩy vào tù một cách oan ức, khi trở về làng, Chí trở thành một kẻ lưu manh, say xỉn và bạo lực, mất đi nhân tính. Hắn sống trong sự cô độc, không gia đình, không tình yêu, bị xã hội xa lánh. Chí Phèo trở thành biểu tượng của một con người bị tha hóa đến mức đánh mất hoàn toàn bản chất con người.

Trong khi đó, Lão Hạc lại khác. Ông là một người nông dân già nghèo khổ nhưng nhân hậu, đầy lòng tự trọng. Lão Hạc không bị tha hóa như Chí Phèo, mà ngược lại, ông giữ gìn phẩm giá đến phút cuối cùng. Lão Hạc quyết định bán cậu Vàng, con chó mà ông thương yêu, để dành tiền lo hậu sự cho mình, tránh gánh nặng cho con trai. Khi không còn lối thoát, lão chọn cái chết để giữ gìn lòng tự trọng, không muốn mắc nợ hay trở thành gánh nặng cho ai. Điều này cho thấy Lão Hạc vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, dù sống trong cảnh khốn cùng.

Sự khác biệt lớn nhất giữa hai tác phẩm nằm ở quá trình tha hóa và giữ gìn nhân phẩm của nhân vật. Chí Phèo, từ một người nông dân lương thiện, trở thành "con quỷ dữ" của làng Vũ Đại. Hắn bị xã hội đẩy ra ngoài lề, mất đi cơ hội làm người. Dù trong lòng Chí vẫn có khát vọng được trở về làm người lương thiện, nhưng sự cô độc và sự từ chối của xã hội đã khiến hắn không còn lối thoát, dẫn đến bi kịch giết Bá Kiến và tự sát.

Ngược lại, Lão Hạc không bị xã hội tha hóa, mà là tự nguyện chọn con đường giữ gìn phẩm giá. Cái chết của lão mang tính chất tự nguyện, không phải vì bị ép buộc, mà vì lão muốn giữ lại lòng tự trọng cuối cùng. Qua đó, Nam Cao khắc họa lên hình ảnh một người nông dân giàu lòng tự trọng, dù nghèo khổ nhưng vẫn giữ được phẩm giá con người.

Cả hai tác phẩm đều phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội phong kiến thực dân, nơi con người bị vùi dập, không còn đường sống. Tuy nhiên, "Chí Phèo" tập trung vào bi kịch tha hóa con người do áp lực xã hội, còn "Lão Hạc" là bi kịch của lòng tự trọng và sự cam chịu. Nếu Chí Phèo là hiện thân của sự phản kháng mãnh liệt, thì Lão Hạc lại là biểu tượng của sự chịu đựng và cam chịu trong im lặng.

Nam Cao qua hai tác phẩm đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi đau khổ của người nông dân trong xã hội cũ, đồng thời cũng khẳng định giá trị con người qua các bi kịch của nhân vật. Sự tha hóa của Chí Phèo là tiếng kêu cứu của những con người bị xã hội bỏ rơi, còn sự chọn cái chết của Lão Hạc là minh chứng cho lòng tự trọng, cho khát vọng được sống một cách có ý nghĩa.

Tóm lại, "Chí Phèo" và "Lão Hạc" là hai tác phẩm xuất sắc của Nam Cao, mỗi tác phẩm mang một màu sắc riêng nhưng đều góp phần phản ánh hiện thực xã hội bất công và sự tha hóa của con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Qua đó, Nam Cao không chỉ phản ánh hiện thực tàn bạo mà còn bộc lộ tư tưởng nhân đạo sâu sắc, đồng cảm với những số phận nghèo khổ và khao khát thay đổi xã hội.

6. Những lỗi thường gặp

  • Chỉ phân tích từng tác phẩm mà không so sánh
  • Quên đánh giá nghệ thuật
  • Không có nhận xét về tài năng Nam Cao
Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Thanh
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Tìm thêm: Văn mẫu lớp 12
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo