Hỗ trợ tư vấn
Tư vấn - Giải đáp - Hỗ trợ đặt tài liệu
Mua gói Pro để tải file trên Download.vn (không bao gồm tài liệu cao cấp) và trải nghiệm website không quảng cáo
Tìm hiểu thêm »Phân tích Vợ nhặt của Kim Lân tổng hợp giúp các bạn học sinh có thêm nhiều tư liệu tham khảo để hiểu sâu hơn về nội dung, nhân vật và những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.
Qua đó, các bạn có thể biết cách tìm ý, xây dựng luận điểm, lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu và trình bày bài văn phân tích tác phẩm một cách mạch lạc, thuyết phục.

Xem thêm: Sơ đồ tư duy bài Vợ nhặt
a. Mở bài
Giới thiệu nhà văn Kim Lân và Vợ nhặt.
b. Thân bài
* Tràng dẫn người vợ nhặt về nhà
- Tràng:
- Người vợ nhặt:
* Tràng nhớ lại việc mình có được vợ
- Lần gặp 1: Câu hỏi Tràng chỉ là lời hát vu vơ, không chủ tâm trêu ghẹo tình với cô gái nào.
- Lần gặp 2:
* Khi Tràng và người vợ nhặt về nhà, cuộc gặp gỡ với bà cụ Tứ
- Tràng:
- Người vợ nhặt:
- Bà cụ Tứ:
* Sáng hôm sau khi tỉnh dậy
- Tràng:
- Thị:
- Bà cụ Tứ: Động viên, vun vén cho các con…
(3) Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Học sinh có thể lựa chọn những hướng phân tích sau:
Kim Lân là một nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với hơi thở của vùng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: Làng, Vợ Nhặt,...Tác phẩm Vợ nhặt được trích từ tập truyện “Con chó xấu xí” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất qua tác phẩm này.
Tác phẩm “Vợ nhặt” trích trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Truyện được viết ngay sau cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư”. Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành “Vợ nhặt”. Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện, anh Tràng nghèo khổ, xấu xí, ế vợ. Giữa nạn đói năm Ất Dậu, chỉ một câu nói bông đùa, bốn bát bánh đúc, hai hào dầu mà Tràng có được vợ. Nói đúng hơn là có vợ theo mà không tốn tiền cưới hỏi gì. Sau đêm tân hôn của đôi vợ chồng son, cuộc sống gia đình Tràng bắt đầu nhen theo ngọn lửa niềm tin. Bà cụ Tứ - mẹ Tràng thì rạng rỡ hẳn lên. Người vợ nhặt thì hiền hậu đúng mực khác với vẻ chao chát ngoài chợ. Kết thúc tác phẩm là chi tiết lá cờ đỏ cùng đoàn người đi phá thóc Nhật.
Tìm hiểu vào truyện ta mới thấy được sự tài tình trong nghệ thuật tả thực. Đó là một cốt truyện, một tình huống éo le khó có thể thấy trong đời sống hiện đại. Câu chuyện xoay quanh chàng trai xấu xí nghèo khổ, là người dân ngụ cư nay đây mai đó có phẩm chất hiền lành, tốt bụng, sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp. Anh sống với mẹ già, gia cảnh nghèo túng. Lấy vợ trong thời điểm nạn đói hoành hành, thêm một miệng ăn là thêm một bữa đói. Đã vậy, còn không phải là nên duyên do tình yêu đôi lứa mà chỉ là đúng nghĩa “nhặt” được một cô vợ mang về nhà cùng chung sống. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính Tràng cũng hiểu được nếu trong hoàn cảnh bình thường, cuộc sống yên bình, người người nhà nhà no đủ thì bản thân Tràng rất khó có khả năng lấy vợ.
Ngoài những câu văn thật đến trần trụi thì Kim Lân cũng theo chủ nghĩa nhân đạo, tôn vinh vẻ đẹp của tâm hồn con người. Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Ngay cả đến tên gọi cũng là tên gọi của một loại đồ vặt dùng trong nghề mộc. Với vài nét bút phác họa đơn giản, Tràng hiện lên có phần giống với những thằng đần, thằng ngốc trong truyện cổ tích. Cái lưng thì được nhà văn tạo thành “lưng gấu”, cái mặt thì ấn tượng bởi “hai con mắt nhỏ tí gà gà, quai hàm bạnh”. Tính cách thì phần trẻ con nhiều hơn. Vì thế chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Nhưng Kim Lân không có ý định viết truyện cổ tích về thằng đần thằng gốc mà ông đang kể lại một sự thật, sự thật đau lòng về cái đói cái nghèo.
Nhưng cùng là miêu tả hình tượng nhân vật xấu xí như Chí Phèo nhưng Tràng lại không bị biến chất, luôn có niềm tin vào cuộc sống, tin vào tương lai. Hắn luôn sống chân thật với bản thân mình, không cố thay đổi nó để phù hợp với hoàn cảnh. So với người trưởng thành hắn là kẻ ngốc nhưng trong thế giới quan của bản thân, hắn luôn vui vẻ dù thực tế cuộc sống có nghiệt ngã ra sao. Khi ngày ngày thức dậy, bắt đầu ngày mới Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khi mà cái đói cướp luôn tiếng cười vui vẻ hồn nhiên của lũ trẻ trong làng thì Tràng luôn là viên thuốc giúp bọn trẻ trở lại với độ tuổi của mình, chúng vây quanh anh to nhỏ nói cười. Dù bản thân cũng khó khăn, cơm không đủ nó nhưng hắn vẫn tự chịu trách nhiệm với lời nói của bản thân mà mang người đàn bà mới gặp hai lần về làm vợ. Hắn vui vẻ mời người phụ nữ đã cùng phụ hắn đẩy xe một lần, mời người đang mờ mắt vì đói dù bụng hắn cũng chả no cùng lúc “bốn bát bánh đúc”. Câu “Nói đùa chứ về với tớ thì chỉ ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi ai ngờ Thị về thật. Là câu nói đùa, câu nói không suy nghĩ liều lĩnh nhất trong đời hắn. Vì khi mà Thị theo về thật lúc đầu hắn lo hơn mừng, lo vì nghèo càng thêm nghèo, lo khi có vợ mà không chắc mình có thể cho cô no ấm. Nhưng ẩn sau trong câu nói tưởng vô tư không suy tính đến tương lai đấy chính là khát vọng về cuộc sống tươi sáng hơn, cuộc sống có đầy đủ người thân, có hạnh phúc trọn vẹn sau này.
Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết “mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bồng” Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất là thời điểm đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “chậc kệ!”. Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vui vén cho cái hạnh phúc của mình. Tràng dường như thay đổi sau một đêm, trưởng thành hơn, chín chắn hơn trong cả nhận thức lẫn hành động. Hai con người cùng khổ nương tựa vào nhau, cùng nhau cố gắng cho tương lai. Điều đó thể hiện rõ nhất ở hình ảnh ngôi nhà sau một đêm có người phụ nữ sinh sống. Ngôi nhà vốn chật hẹp, tối tăm, bẩn thỉu nay sạch sẽ gọn gàng hơn, giống nơi có người ở hơn. Nơi đó Tràng lại thấy có mẹ, có vợ, có những người quan trọng và thân thiết nhất. Hắn thấy nhiều hơn về tương lai tươi sáng, thấy thương yêu và cần có trách nhiệm hơn với gia đình.
Kim Lân là nhà văn có sở trường viết về cuộc sống và tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông, được xây dựng trên nền hiện thực đau thương của nạn đói năm 1945.
Sức hấp dẫn của Vợ nhặt được tạo nên từ tình huống truyện độc đáo. Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng – một người đàn ông nghèo, thô kệch, làm nghề kéo xe bò thuê – lại “nhặt” được vợ. Chỉ vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc, một người phụ nữ xa lạ đã theo Tràng về làm vợ. Hạnh phúc vốn là chuyện trọng đại của đời người nhưng trong hoàn cảnh ấy lại diễn ra nhanh chóng và rẻ rúng đến xót xa. Tình huống “nhặt vợ” vì thế vừa tạo nên sự bất ngờ, vừa phơi bày hiện thực khắc nghiệt của nạn đói. Đồng thời, đây cũng là tình huống để các nhân vật bộc lộ những phẩm chất đẹp đẽ nhất.
Kim Lân đã tái hiện chân thực bức tranh nạn đói năm 1945 bằng những chi tiết đầy ám ảnh. Xóm ngụ cư hiện lên tiêu điều, xác xơ; người chết đói nằm la liệt; những khuôn mặt xanh xám, hốc hác vì đói xuất hiện khắp nơi. Không khí chết chóc bao trùm cuộc sống. Cái đói không chỉ đe dọa sự sống mà còn đẩy con người vào hoàn cảnh khốn cùng, khiến một người phụ nữ phải theo không một người đàn ông chỉ vì vài bát bánh đúc. Qua đó, tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc, cho thấy thảm cảnh của người dân nghèo trước Cách mạng.
Trong bóng tối của nạn đói, Kim Lân vẫn phát hiện ánh sáng của tình người. Tràng vốn là người nghèo khổ nhưng khi có vợ, anh thay đổi rõ rệt. Tràng cảm thấy mình trưởng thành hơn, biết lo lắng cho gia đình và có ý thức vun vén tổ ấm. Người vợ nhặt, từ một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn vì đói, khi trở thành vợ Tràng lại trở nên dịu dàng, ý tứ và biết chăm lo cho gia đình. Sự thay đổi ấy cho thấy mái ấm và tình yêu thương có khả năng đánh thức những phẩm chất tốt đẹp trong con người.
Đặc biệt, bà cụ Tứ là hiện thân cảm động của tình mẫu tử và lòng nhân hậu. Khi biết con trai có vợ, bà vừa ngạc nhiên, vừa thương con, thương con dâu và thương cho số phận của chính mình. Dù hiểu rằng các con đang bước vào một cuộc sống đầy đói khát, bà vẫn dang tay đón nhận người con dâu mới. Bà cố gắng nói về tương lai, gieo vào lòng các con niềm hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám tuy nghẹn đắng nhưng lại chứa đựng biết bao tình thương. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cùng cực, các nhân vật vẫn cố gắng tạo dựng một mái ấm, bởi con người không chỉ sống nhờ thức ăn mà còn sống nhờ tình yêu thương và hi vọng.
Bên cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo, Vợ nhặt còn thành công ở nghệ thuật xây dựng tình huống, nhân vật và miêu tả tâm lí. Ngôn ngữ truyện mộc mạc, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân lao động. Những chi tiết như nồi cháo cám hay hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ ở cuối truyện đều giàu sức gợi. Đặc biệt, hình ảnh lá cờ đỏ đã mở ra một hướng vận động mới: từ bóng tối của nạn đói, con người bắt đầu hướng tới ánh sáng của cách mạng và một tương lai tốt đẹp hơn.
Vợ nhặt là câu chuyện về cái đói nhưng sâu xa hơn là câu chuyện về con người trong cái đói. Tác phẩm có sức lay động mạnh mẽ, nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, trân trọng cuộc sống và luôn giữ niềm tin vào ngày mai.
Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây: