Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân 4 Dàn ý & 25 bài phân tích Vợ nhặt

Phân tích Vợ nhặt của Kim Lân tổng hợp giúp các bạn học sinh có thêm nhiều tư liệu tham khảo để hiểu sâu hơn về nội dung, nhân vật và những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.

Qua đó, các bạn có thể biết cách tìm ý, xây dựng luận điểm, lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu và trình bày bài văn phân tích tác phẩm một cách mạch lạc, thuyết phục. 

1. Hướng dẫn phân tích đề

  • Kiểu bài: nghị luận văn học
  • Dạng bài: phân tích
  • Đối tượng: truyện ngắn Vợ nhặt

2. Sơ đồ tư duy phân tích Vợ nhặt

Sơ đồ tư duy phân tích Vợ nhặt

Xem thêm: Sơ đồ tư duy bài Vợ nhặt

3. Dàn ý chi tiết

a. Mở bài

Giới thiệu nhà văn Kim Lân và Vợ nhặt.

b. Thân bài

* Tràng dẫn người vợ nhặt về nhà

- Tràng:

  • Vẻ mặt “có cái gì hớn hở khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh vênh tự đắc”..
  • Mua dầu về thắp để khi thị về nhà mình căn nhà trở nên sáng sủa.

- Người vợ nhặt:

  • “e thẹn, rón rén”, đầu cúi xuống, cái nón tà nghiêng nghiêng che nửa đi khuôn mặt đang ngại ngùng
  • Gặp phải cảnh trêu chọc của đám trẻ con, ánh nhìn ái ngại của những người làng, thị thấy khó chịu, tủi cho phận mình là một người vợ theo không.

* Tràng nhớ lại việc mình có được vợ

- Lần gặp 1: Câu hỏi Tràng chỉ là lời hát vu vơ, không chủ tâm trêu ghẹo tình với cô gái nào.

- Lần gặp 2:

  • Khi bị thị mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn một chặp bát bánh đúc dù không dư dả gì.
  • Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”.
  • Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ.

* Khi Tràng và người vợ nhặt về nhà, cuộc gặp gỡ với bà cụ Tứ

- Tràng:

  • Xăm xăm bước vào dọn dẹp sơ qua, thanh minh về sự bừa bộn vì thiếu bàn tay của đàn bà.
  • Khi bà cụ Tứ chưa về, Tràng có cảm giác “sờ sợ” vì lo rằng người vợ sẽ bỏ đi vì gia cảnh quá khó khăn, sợ hạnh phúc sẽ tuột khỏi tay.
  • Sốt ruột mong bà cụ Tứ về để thưa chuyện vì trong cảnh đói khổ vẫn phải nghĩ đến quyết định của mẹ.
  • Khi mẹ về: liền thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lý do lấy vợ là “phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp. Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.

- Người vợ nhặt:

  • Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”.

- Bà cụ Tứ:

  • Bà ngạc nhiên trước sự đon đả của đứa con trai ngờ nghệch, ngạc nhiên trước sự xuất hiện của người đàn bà lạ.
  • Bà hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, “mắt bà nhòa đi”, thương cho con trai phải lấy vợ nhặt, mà trong cảnh đói khát mới lấy được vợ, thương cho người đàn bà khốn khổ cùng đường mới phải lấy con trai bà.
  • Cách đối xử với con dâu: “Con ngồi đây ... đỡ mỏi chân”, nói về tương lai với niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn...

* Sáng hôm sau khi tỉnh dậy

- Tràng:

  • Tràng nhận thấy sự thay đổi kỳ lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo…).
  • Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình. Cũng thấy mình trưởng thành hơn.
  • Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bay phấp phới.

- Thị:

  • Sáng hôm sau, thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không làm bà buồn.

- Bà cụ Tứ: Động viên, vun vén cho các con…

(3) Kết bài

Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.

4. Gợi ý ý tưởng

Học sinh có thể lựa chọn những hướng phân tích sau:

  • “Nhặt vợ” là một tình huống vừa lạ vừa đau: hạnh phúc đáng lẽ phải được chuẩn bị chu đáo lại diễn ra chóng vánh giữa nạn đói.
  • Cái đói làm con người khốn cùng nhưng không thể giết chết tình người.
  • Tràng thay đổi sau khi có vợ: từ vô tư đến biết lo lắng, vun vén.
  • Người vợ nhặt thay đổi khi bước vào mái ấm: từ chỏng lỏn, rách rưới trở nên dịu dàng, đảm đang.
  • Bà cụ Tứ là biểu tượng của tình mẫu tử và lòng nhân hậu.
  • Nồi cháo cám: vừa tố cáo cái đói vừa làm nổi bật tình thương và sự cố gắng giữ gìn hạnh phúc gia đình.
  • Lá cờ đỏ ở cuối truyện: gợi mở con đường cách mạng, niềm tin vào một tương lai mới.

5. Từ ngữ hay

  • thê thảm
  • khốn cùng
  • tiêu điều
  • xác xơ
  • ám ảnh
  • tang thương
  • đói khát
  • bi đát
  • tăm tối
  • đau xót

6. Mẫu tham khảo

Mẫu 1

Kim Lân là một nhà văn có nhiều trang viết gắn liền với hơi thở của vùng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm viết về con người và mảnh đất này như: Làng, Vợ Nhặt,...Tác phẩm Vợ nhặt được trích từ tập truyện “Con chó xấu xí” là tác phẩm xuất sắc của Kim Lân. Tác phẩm vừa là bức tranh chân thực về nạn đói khủng khiếp năm 1945 vừa là bài ca ca ngợi về vẻ đẹp tình người và khát vọng sống, niềm tin vào tương lai của người lao động nghèo. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất qua tác phẩm này.

Tác phẩm “Vợ nhặt” trích trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Truyện được viết ngay sau cách mạng với tên gọi “Xóm ngụ cư”. Nhưng do thất lạc bản thảo nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại thành “Vợ nhặt”. Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện, anh Tràng nghèo khổ, xấu xí, ế vợ. Giữa nạn đói năm Ất Dậu, chỉ một câu nói bông đùa, bốn bát bánh đúc, hai hào dầu mà Tràng có được vợ. Nói đúng hơn là có vợ theo mà không tốn tiền cưới hỏi gì. Sau đêm tân hôn của đôi vợ chồng son, cuộc sống gia đình Tràng bắt đầu nhen theo ngọn lửa niềm tin. Bà cụ Tứ - mẹ Tràng thì rạng rỡ hẳn lên. Người vợ nhặt thì hiền hậu đúng mực khác với vẻ chao chát ngoài chợ. Kết thúc tác phẩm là chi tiết lá cờ đỏ cùng đoàn người đi phá thóc Nhật.

Tìm hiểu vào truyện ta mới thấy được sự tài tình trong nghệ thuật tả thực. Đó là một cốt truyện, một tình huống éo le khó có thể thấy trong đời sống hiện đại. Câu chuyện xoay quanh chàng trai xấu xí nghèo khổ, là người dân ngụ cư nay đây mai đó có phẩm chất hiền lành, tốt bụng, sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp. Anh sống với mẹ già, gia cảnh nghèo túng. Lấy vợ trong thời điểm nạn đói hoành hành, thêm một miệng ăn là thêm một bữa đói. Đã vậy, còn không phải là nên duyên do tình yêu đôi lứa mà chỉ là đúng nghĩa “nhặt” được một cô vợ mang về nhà cùng chung sống. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, chính Tràng cũng hiểu được nếu trong hoàn cảnh bình thường, cuộc sống yên bình, người người nhà nhà no đủ thì bản thân Tràng rất khó có khả năng lấy vợ.

Ngoài những câu văn thật đến trần trụi thì Kim Lân cũng theo chủ nghĩa nhân đạo, tôn vinh vẻ đẹp của tâm hồn con người. Tràng có ngoại hình xấu xí, thô kệch. Ngay cả đến tên gọi cũng là tên gọi của một loại đồ vặt dùng trong nghề mộc. Với vài nét bút phác họa đơn giản, Tràng hiện lên có phần giống với những thằng đần, thằng ngốc trong truyện cổ tích. Cái lưng thì được nhà văn tạo thành “lưng gấu”, cái mặt thì ấn tượng bởi “hai con mắt nhỏ tí gà gà, quai hàm bạnh”. Tính cách thì phần trẻ con nhiều hơn. Vì thế chẳng mấy ai thèm nói chuyện, trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Nhưng Kim Lân không có ý định viết truyện cổ tích về thằng đần thằng gốc mà ông đang kể lại một sự thật, sự thật đau lòng về cái đói cái nghèo.

Nhưng cùng là miêu tả hình tượng nhân vật xấu xí như Chí Phèo nhưng Tràng lại không bị biến chất, luôn có niềm tin vào cuộc sống, tin vào tương lai. Hắn luôn sống chân thật với bản thân mình, không cố thay đổi nó để phù hợp với hoàn cảnh. So với người trưởng thành hắn là kẻ ngốc nhưng trong thế giới quan của bản thân, hắn luôn vui vẻ dù thực tế cuộc sống có nghiệt ngã ra sao. Khi ngày ngày thức dậy, bắt đầu ngày mới Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm cong queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khi mà cái đói cướp luôn tiếng cười vui vẻ hồn nhiên của lũ trẻ trong làng thì Tràng luôn là viên thuốc giúp bọn trẻ trở lại với độ tuổi của mình, chúng vây quanh anh to nhỏ nói cười. Dù bản thân cũng khó khăn, cơm không đủ nó nhưng hắn vẫn tự chịu trách nhiệm với lời nói của bản thân mà mang người đàn bà mới gặp hai lần về làm vợ. Hắn vui vẻ mời người phụ nữ đã cùng phụ hắn đẩy xe một lần, mời người đang mờ mắt vì đói dù bụng hắn cũng chả no cùng lúc “bốn bát bánh đúc”. Câu “Nói đùa chứ về với tớ thì chỉ ra khuân đồ lên xe rồi về”. Nói đùa thế thôi ai ngờ Thị về thật. Là câu nói đùa, câu nói không suy nghĩ liều lĩnh nhất trong đời hắn. Vì khi mà Thị theo về thật lúc đầu hắn lo hơn mừng, lo vì nghèo càng thêm nghèo, lo khi có vợ mà không chắc mình có thể cho cô no ấm. Nhưng ẩn sau trong câu nói tưởng vô tư không suy tính đến tương lai đấy chính là khát vọng về cuộc sống tươi sáng hơn, cuộc sống có đầy đủ người thân, có hạnh phúc trọn vẹn sau này.

Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết “mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bồng” Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất là thời điểm đói kém như thế này. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi “chậc kệ!”. Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vui vén cho cái hạnh phúc của mình. Tràng dường như thay đổi sau một đêm, trưởng thành hơn, chín chắn hơn trong cả nhận thức lẫn hành động. Hai con người cùng khổ nương tựa vào nhau, cùng nhau cố gắng cho tương lai. Điều đó thể hiện rõ nhất ở hình ảnh ngôi nhà sau một đêm có người phụ nữ sinh sống. Ngôi nhà vốn chật hẹp, tối tăm, bẩn thỉu nay sạch sẽ gọn gàng hơn, giống nơi có người ở hơn. Nơi đó Tràng lại thấy có mẹ, có vợ, có những người quan trọng và thân thiết nhất. Hắn thấy nhiều hơn về tương lai tươi sáng, thấy thương yêu và cần có trách nhiệm hơn với gia đình.

Mẫu 2

Kim Lân là nhà văn có sở trường viết về cuộc sống và tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của ông, được xây dựng trên nền hiện thực đau thương của nạn đói năm 1945.

Sức hấp dẫn của Vợ nhặt được tạo nên từ tình huống truyện độc đáo. Giữa lúc nạn đói đang hoành hành, Tràng – một người đàn ông nghèo, thô kệch, làm nghề kéo xe bò thuê – lại “nhặt” được vợ. Chỉ vài câu nói đùa và mấy bát bánh đúc, một người phụ nữ xa lạ đã theo Tràng về làm vợ. Hạnh phúc vốn là chuyện trọng đại của đời người nhưng trong hoàn cảnh ấy lại diễn ra nhanh chóng và rẻ rúng đến xót xa. Tình huống “nhặt vợ” vì thế vừa tạo nên sự bất ngờ, vừa phơi bày hiện thực khắc nghiệt của nạn đói. Đồng thời, đây cũng là tình huống để các nhân vật bộc lộ những phẩm chất đẹp đẽ nhất.

Kim Lân đã tái hiện chân thực bức tranh nạn đói năm 1945 bằng những chi tiết đầy ám ảnh. Xóm ngụ cư hiện lên tiêu điều, xác xơ; người chết đói nằm la liệt; những khuôn mặt xanh xám, hốc hác vì đói xuất hiện khắp nơi. Không khí chết chóc bao trùm cuộc sống. Cái đói không chỉ đe dọa sự sống mà còn đẩy con người vào hoàn cảnh khốn cùng, khiến một người phụ nữ phải theo không một người đàn ông chỉ vì vài bát bánh đúc. Qua đó, tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc, cho thấy thảm cảnh của người dân nghèo trước Cách mạng.

Trong bóng tối của nạn đói, Kim Lân vẫn phát hiện ánh sáng của tình người. Tràng vốn là người nghèo khổ nhưng khi có vợ, anh thay đổi rõ rệt. Tràng cảm thấy mình trưởng thành hơn, biết lo lắng cho gia đình và có ý thức vun vén tổ ấm. Người vợ nhặt, từ một người đàn bà chao chát, chỏng lỏn vì đói, khi trở thành vợ Tràng lại trở nên dịu dàng, ý tứ và biết chăm lo cho gia đình. Sự thay đổi ấy cho thấy mái ấm và tình yêu thương có khả năng đánh thức những phẩm chất tốt đẹp trong con người.

Đặc biệt, bà cụ Tứ là hiện thân cảm động của tình mẫu tử và lòng nhân hậu. Khi biết con trai có vợ, bà vừa ngạc nhiên, vừa thương con, thương con dâu và thương cho số phận của chính mình. Dù hiểu rằng các con đang bước vào một cuộc sống đầy đói khát, bà vẫn dang tay đón nhận người con dâu mới. Bà cố gắng nói về tương lai, gieo vào lòng các con niềm hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám tuy nghẹn đắng nhưng lại chứa đựng biết bao tình thương. Trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cùng cực, các nhân vật vẫn cố gắng tạo dựng một mái ấm, bởi con người không chỉ sống nhờ thức ăn mà còn sống nhờ tình yêu thương và hi vọng.

Bên cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo, Vợ nhặt còn thành công ở nghệ thuật xây dựng tình huống, nhân vật và miêu tả tâm lí. Ngôn ngữ truyện mộc mạc, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói của người dân lao động. Những chi tiết như nồi cháo cám hay hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc Nhật và lá cờ đỏ ở cuối truyện đều giàu sức gợi. Đặc biệt, hình ảnh lá cờ đỏ đã mở ra một hướng vận động mới: từ bóng tối của nạn đói, con người bắt đầu hướng tới ánh sáng của cách mạng và một tương lai tốt đẹp hơn.

Vợ nhặt là câu chuyện về cái đói nhưng sâu xa hơn là câu chuyện về con người trong cái đói. Tác phẩm có sức lay động mạnh mẽ, nhắc nhở mỗi người biết yêu thương, trân trọng cuộc sống và luôn giữ niềm tin vào ngày mai.

6. Những lỗi thường gặp

  • Chỉ kể lại nội dungcủa truyện
  • Nhận xét nhân vật chung chung
  • Bỏ qua kết thúc truyện
  • Bỏ qua giá trị nghệ thuật
Chia sẻ bởi: 👨 Tiểu Thu
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
1 Bình luận
Sắp xếp theo
👨
  • 🖼️
    Thinh Nguyenduy

    Phân Tích giá trị nghệ thuật truyện vợ nhặt và tác dụng của chúng 

    Thích Phản hồi 03/10/23
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo