Phân tích nhân vật Thị trong truyện ngắn Vợ nhặt (2 mẫu) Văn mẫu lớp 11

Phân tích nhân vật Thị là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp học sinh có thêm định hướng khi tìm hiểu và cảm nhận nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Thông qua việc phân tích hoàn cảnh, ngoại hình, hành động, lời nói và những chuyển biến trong tâm lí của nhân vật, các em có thể hiểu sâu hơn về số phận, phẩm chất và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nghèo trong nạn đói năm 1945.

Hy vọng tài liệu sẽ giúp các em có thêm những cách tiếp cận sâu sắc, hiểu rõ hơn vẻ đẹp và số phận của nhân vật Thị, từ đó biết cách triển khai một bài văn nghị luận văn học mạch lạc, giàu dẫn chứng và có chiều sâu.

1. Hướng dẫn phân tích đề

  • Kiểu bài: nghị luận văn học – phân tích nhân vật
  • Đối tượng: nhân vật Thị (người vợ nhặt)

2. Dàn ý chi tiết

(I) Mở bài

  • Giới thiệukhái quát về Kim Lân, truyện ngắn Vợ nhặt.
  • Giới thiệu khái quát về nhân vật thị.

(II) Thân bài

1. Lai lịch

  • Không có quê hương gia đình: có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến biết bao con người bị dứt khỏi quê hương, gia đình.
  • Tên tuổi cũng không có và qua tên gọi “vợ nhặt”: thấy được sự rẻ rúng của con người trong cảnh đói.

2. Chân dung

- Ngoại hình: quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt.

- Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, Thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

- Lần thứ hai:

  • Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khi được mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.
  • Khi nghe tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ cùng về”, Thị đã theo về thật bởi trong cái đói khổ, đó là cơ hội để Thị bấu víu lấy sự sống.

- Nhận xét: cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với Thị vì đó không phải là bản chất mà do cái đói xô đẩy.

3. Phẩm chất

- Có khát vọng sống mãnh liệt:

  • Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không về không cần sính lễ vì Thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.
  • Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, Thị “nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống.

- Thị là người ý tứ và nết na:

  • Trên đường về, Thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, Thị ngại ngùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
  • Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được vị trí trong gia đình.
  • Khi gặp mẹ chồng, ngoài câu chào Thị chỉ cúi đầu, “hai tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thể hiện sự lúng túng ngượng nghịu.
  • Sáng hôm sau, Thị dậy sớm quét tước nhà cửa, không còn cái vẻ “chao chát, chỏng lỏn” mà hiền hậu, đúng mực.
  • Lúc ăn cháo cám, mới nhìn “mắt Thị tối lại”, nhưng vẫn điềm nhiên và vào miệng thể hiện sự nể nang, ý tứ trước người mẹ chồng, không buồn làm bà buồn.

- Nhận xét: cái đói có thể cướp đi nhân phẩm trong khoảnh khắc nào đó chứ không vĩnh viễn cướp đi được tâm hồn con người.

- Thị còn là người có niềm tin vào tương lai: kể chuyện phá kho thóc trên Thái Nguyên, Bắc Giang để thắp lên hy vọng cho cả gia đình, đặc biệt là cho Tràng.

- Nêu cảm nhận chung về hình tượng người vợ nhặt sau khi phân tích.

(III) Kết bài

  • Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, ...
  • Tác phẩm chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: người đọc hiểu và cảm thông với cảnh ngộ thương tâm, rẻ rúng của người lao động trong nạn đói, tố cáo thực dân, phát xít, ngợi ca khát vọng sống trong cảnh cơ cực.

3. Gợi ý ý tưởng

  • Ngoại hình, tính cách của nhân vật thị
  • Nhân vật thị trong mối quan hệ với nhân vật khác

4. Từ ngữ hay

  • đói khát
  • nghèo túng
  • khốn cùng
  • bấp bênh
  • thê thảm
  • tiều tụy
  • hốc hác
  • rách rưới
  • vô danh
  • khát vọng sống
  • khát vọng hạnh phúc
  • giàu tình thương
  • biết vun vén
  • đảm đang
  • giàu sức sống
  • hướng về tương lai
  • giàu niềm tin

5. Mẫu tham khảo

Mẫu 1

Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biểu cho hình ảnh đó là thị trong truyện ngắn “Vợ nhặt của” Kim Lân. Qua nhân vật này, ta thấy được phần nào vẻ đẹp của người lao động trước cách mạng.

Vợ nhặt xoay quanh nhân vật Tràng - nghèo khó, xấu xí nhưng lại nhặt được vợ - thị giữa những năm tháng của nạn đói. Diễn biến tâm trạng thị từ khi theo Tràng về vào đêm hôm trước đến sáng hôm sau có nhiều chuyển biến phức tạp, đồng thời bộc lộ nhiều vẻ đẹp của người lao động trước cách mạng.

Khi viết về nhân vật thị, Kim Lân có vẻ khá kiệm lời. Thị hiện lên trong tác phẩm với con số không tròn trĩnh, không tên tuổi, không quê quán, không nghề nghiệp, không người thân, không gia đình. Vẻ ngoài của thị được miêu tả vô cùng thảm hại: “Áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Chỉ qua hai lần gặp gỡ, bốn bát bánh đúc, mấy câu bông đùa, thị đã theo không Tràng về làm vợ. Thị bấu víu lấy Tràng như người sắp chết đuối vớ được phao trong bể lũ nạn đói khốn khổ. Trên đường về nhà Tràng, thị bị trẻ con và người dân trong xóm nhòm ngó, chỉ trỏ, thị “ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia”. Hành động và tâm trạng của thị được tác giả mở ra và đào sâu từ đó.

Nếu ở những lần đầu gặp gỡ, thị hiện lên là một người phụ nữ chao chát, chỏng lỏn, không có ý tứ thì khi trở thành vợ Tràng, thị có những thay đổi bất ngờ. Về đến nơi, thị “lẳng lặng theo hắn vào trong nhà”, đảo mắt nhìn “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”. Thị nén một tiếng thở dài. Không hẳn tiếng “thở dài” ấy là bởi nhìn thấy cảnh nghèo túng xác xơ của nhà Tràng. Thị chắc thừa hiểu và đoán được hoàn cảnh của một người đi kéo xe bò thuê. Thị theo về nhưng trong lòng vẫn chưa dứt khoát lắm. Thị theo như một sự liều mình. Nhưng khi đặt chân vào ngõ, khi không thể thêm lần thay đổi được tình cảnh, phải thực sự chấp nhận cuộc sống mới dù cuộc sống đó có thế nào đi nữa, thì một tiếng thở dài là không tránh khỏi. Thị “nén” tiếng thở dài. Đó là hành động ý nhị, giữ cho Tràng chút thể diện, cũng là để an ủi mình chấp nhận số phận. Khi bước vào nhà, sau tấm phên rách, “những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất” đập vào mắt thị. Nghe Tràng giải thích: “Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!”, thị chỉ “nhếch mép cười nhạt nhẽo”. Hành động của thị là khinh bỉ ư? Không phải. Chính Kim Lân trong một lần phỏng vấn đã thanh minh cho thị. Ông nói: “Thị “nhếch mép” nhạt nhẽo vì ý khác. Thị tủi cho cái thân phận của thị, thân phận theo trai vì đói: thị biết thị theo Tràng chỉ vì đói và như thế không xứng đáng gì với tư cách người đàn bà trong gia đình Tràng vừa gán cho”. Rõ ràng, thị là người đàn bà có suy nghĩ sâu xa, ý thức sâu sắc về thân phận của mình. Dẫu có thất vọng đôi chút về hoàn cảnh của người tự khoe “rích bố cu” nhưng thị hiểu rằng ngoài Tràng, sẽ chẳng có ai cứu vớt thị, chẳng có ai dám “đèo bòng” trong cái “tao đoạn” này.

Trong khi Tràng suốt ruột chờ mẹ về để thưa chuyện, thị ở trong nhà chỉ dám “ngồi mớm ở mép giường”. Thị đã có sẵn mặc cảm về thân phận mình cho nên đã chấp nhận hoàn cảnh sống với đôi mắt vô hồn nhìn “bần thần” đâu đó. Thị chỉ dám ngồi ở mép giường. Tư thế “ngồi mớm ở mép giường” và hai tay vẫn không rời cái thúng, chứng tỏ thị hơn ai hết hiểu rõ số phận của mình. Cái dáng ngồi cũng chênh vênh như cuộc đời thị lúc này. Hẳn thị đang lo lắng và cả đôi chút sợ hãi. Sợ khi ở một nơi hoàn toàn xa lạ, lo vì chắc gì mẹ Tràng đã chấp nhận cho thị về làm vợ Tràng. Nếu mẹ Tràng không đồng ý, cuộc đời thị sẽ đi về đâu. Thị làm ta nhớ đến số phận long đong của những người phụ nữ, nhất là phụ nữ trong xã hội xưa:

“Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

Hay

“Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?”

Kiều, thị hay bao người con gái vô danh trong ca dao đều có số phận mong manh, trôi nổi, đều bị những cơn sóng dữ của cuộc đời xô đẩy không thương tiếc. Những khác với những người con gái trong xã hội cũ chỉ biết cam chịu và chấp nhận, thị đã mạnh mẽ đứng lên tự giành lấy sự sống cho mình. Đây cũng là vẻ đẹp mới của con người, nhất là người phụ nữ trong văn học hiện đại khác với văn học thời kì trước đó.

Khi mẹ Tràng về, thị không ngồi nữa mà đứng dậy vừa thể hiện tâm trạng lo lắng, vừa cho thấy thái độ tôn trọng bà cụ Tứ của thị. Thị chào hai lần, lễ phép. Không còn thấy thị vồ vập, vô duyên khi bị cái đói dồn ép nữa, bây giờ thị mẫu mực, lễ phép, ngoan hiền, mang tâm trạng của một nàng dâu mới khép nép trước mặt mẹ chồng. Đứng trước bà cụ Tứ, trông thị rất đáng thương: "cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt". Nghe bà cụ Tứ nói: "Con ngồi xuống đây. Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân" thị "vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ". Đó là tâm trạng của một người con gái lấy chồng không một quả cau, một lá trầu, không lễ rước cưới hỏi. Tủi cho cảnh ngộ. Tủi cho duyên số. Thật đáng thương bao! Chỉ trong một buổi tối ngắn ngủi, thông qua diễn biến tâm trạng, Kim Lân đã cho người đọc thấy được những những vẻ đẹp khuất lấp của thị. Thị hiện lên trong tâm thức người đọc là nạn nhân cái đói nhưng ẩn sâu trong vỏ bọc xấu xí và khốn khổ là một cô gái sâu sắc, lễ phép, ý tứ, thấu hiểu lẽ đời. Thị là đại diện cho vẻ đẹp thuần hậu, chất phác những cô gái Việt Nam từ bao đời:

“Thân em như củ ấu gai,
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi nếm thử mà xem!
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.”

Tối theo Tràng về, thị đã bộc lộ nhiều nét tính cách tốt đẹp. Đến sáng hôm sau, tâm trạng và hành động của thị càng thể hiện rõ điều đó. Nàng dâu mới rất biết ý tứ: Dậy sớm cùng mẹ chồng quét tước, thu dọn nhà cửa sạch sẽ gọn gàng, xây đắp tổ ấm hạnh phúc. Thị đã thay đổi hoàn toàn qua điểm nhìn của Tràng: “Tràng nom thị hôm nay khác hẳn, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực....” Tiếng chổi quét sân của Thị "kêu sàn sạt trên mặt đất" tưởng như niềm vui đang xôn xao trong lòng Thị? Thị "lẳng lặng" đi vào bếp dọn bữa ăn sáng. Nhà văn không miêu tả kĩ nội tâm nhân vật thị, chỉ để hình ảnh thị hiện lên qua con mắt và cảm nhận của những nhân vật khác. Tràng cảm thấy vợ mình “khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực”. Bà cụ Tứ đã có "nàng dâu mới", Tràng đã có vợ. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Hẳn tâm trạng thị cũng thoải mái và vui vẻ thì mới có thể truyền cảm giác ấy đến mẹ con Tràng.

Trong bữa cơm ngày đói đón nàng dâu dù chỉ có “niêu cháo lõng bõng, mỗi người được hai bát lưng đã hết nhẵn” nhưng không khí gia đình vẫn rất đầm ấm. Khi được mẹ chồng đãi món “chè khoán” “ngon đáo để”. “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại”. Thị nhận ra ngay đó là cháo cám rất đắng, chát, khó ăn nhưng thị không biểu hiện gì là không vui hay không vừa ý. Thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng”. Đây là một chi tiết rất đắt, vừa thể hiện sự tinh tế, sâu sắc trong nhận thức vừa là sự khéo léo trong cách cư xử của người đàn bà tưởng như vô học nọ. Chị hiểu ra cơ sự của mẹ con Tràng nhưng chị không muốn làm mất đi niềm vui của người mẹ chồng già nua, tội nghiệp. Thị nuốt thẳng miếng cháo cám vì sợ mẹ phiền lòng. Hơn nữa trong sâu thẳm suy nghĩ của thị, thị chấp nhận cuộc sống khổ cực dẫu tương lai còn mờ tịt. Để có bữa cháo cám này, để giành giật lấy sự sống này, thị đã phải đánh đổi cả danh dự và nhân phẩm. Bởi vậy hơn ai hết, thị khát khao được sống, khát khao có được hạnh phúc, khát khao được yêu thương. Thị bây giờ mang một tâm thế khác, tâm thế của một người vợ, một cô con dâu đảm đang, đúng mực, vun vén cho gia đình nhỏ của mình. Thị hướng tới một tương lai tươi sáng khi người phụ nữ này chính là người nói nhiều nhất về đoàn người đi phá kho thóc của Nhật. Thị đã khai sáng cho Tràng và bà cụ Tứ để rồi hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc và lá cờ đỏ sao vàng cứ xuất hiện mãi trong tâm trí của Tràng. Ta cảm thấy nhân vật vợ Tràng, "nàng dâu mới" cũng là người truyền tin cách mạng. Bỏ qua hết những khó khăn, hiện lên nơi thị, lan tỏa đến Tràng, bà cụ tứ là niềm vui, niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng hơn.

Mặc dù nhân vật thị không được nhà văn Kim Lân tập trung nhiều bút lực, nhưng thông qua tâm trạng thị, ta thấy ánh lên vẻ đẹp của người lao động trước cách mạng. Nhà văn không đặt tên cho thị, đó cũng là một dụng ý nghệ thuật. Không có tên tuổi nhưng thị là hiện thân, là đại diện cho những người dân bình dị. Cái đói là một phép thử khắc nghiệt của nhân cách. Ở đó, người lao động hiện lên với tình người, với lòng ham sống mãnh liệt. Tràng hay bà cụ Tứ, đặc biệt là thị đều hướng mình tới một tương lai tươi sáng hơn. Trước cách mạng, người nông dân chưa có đường lối, chưa được định hướng rõ ràng về con đường giải phóng nhưng họ vẫn luôn kiên cường, mạnh mẽ và tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Thị siêng năng trong công việc nhà cửa, lễ phép, đúng mực với bà cụ Tứ, nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc. Đó chính cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp của con người lao động Việt Nam. Thể hiện vẻ đẹp của con người lao động là biểu hiện cơ bản của giá trị nhân đạo - giá trị cốt lõi mà Kim Lân muốn thông qua tác phẩm, thông qua nhân vật truyền tải đến bạn đọc. Với "Vợ nhặt", Kim Lân từng tâm sự: "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn sống, sống cho ra con người". Thị vẫn sống, sống cho ra một con người như thế.

Bằng cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, không kịch tính nhưng sự sắp xếp các chi tiết gây được sự hứng thú, tò mò cho người đọc cùng với ngôn ngữ gần gũi, giản dị, mộc mạc mang đậm dấu ấn của vùng nông thôn Bắc Bộ và bút pháp miêu tả tâm lí, thế giới nội tâm nhân vật tinh tế. Kim Lân đã khéo léo xuất hiện mà bộc lộ hết tâm trạng và những phẩm chất tốt đẹp của mình. Kim Lân chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm lý của người phụ nữ.Thị tuy bị cái đói làm méo mó cả nhân hình và nhân cách nhưng khi được sống trong tình người, tâm trạng thị đi từ buồn tủi, lo lắng, mặc cảm đến tràn đầy hy vọng, thị được trở lại với bản chất tốt đẹp của mình, cũng là vẻ đẹp của người lao động Việt Nam trước cách mạng.

Kim Lân là nhà văn viết ít, nhưng các tác phẩm của ông đều đem đến những giá trị to lớn. Nói như nhà văn Nam Cao thì “một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt” quả thực Kim Lân để thị “đau đớn” trong cái đói và vượt qua bờ cõi giới hạn của nhân phẩm và danh dự để rồi được trở về “phấn khởi” trong vòng tay bác ái của Tràng, của bà cụ Tứ . Thông qua tình huống nhặt vợ trớ trêu, dở khóc dở cười, tác giả ngầm khẳng định một chân lý: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”. (Nguyễn Khải)

Mẫu 2

Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt”, được in trong tập truyện “Con chó xấu xí”. Đây là tác phẩm mà Kim Lân đã tái hiện thành công bức tranh ảm đạm và khủng khiếp về nạn đói Ất Dậu (1945) của nước ta. Trên cái nền tăm tối và đau thương ấy, nhà văn đã đặt vào đó hình ảnh của nhân vật người vợ nhặt: nghèo đói, bất hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt. Điều đó được thể hiện qua việc chị chấp nhận theo không một người đàn ông về làm vợ giữa ngày đói.

Về cảnh ngộ, xuất hiện trong tác phẩm, người vợ nhặt chỉ là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, không quê hương, không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối tác phẩm chị chỉ được gọi bằng “thị”- một cách gọi phiếm định dành cho chị và tất cả những người phụ nữ có cảnh ngộ và số phận đáng thương và tội nghiệp như chị. Không những vậy, chân dung của người phụ nữ ấy hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn: đó là hình ảnh của người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo thì rách như tổ đỉa, sống vất vưởng và chờ đợi may mắn.

Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh. Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng. Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”, “sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng. Đã vậy, Thị còn chủ động đòi ăn. Khi được Tràng mời ăn bánh đúc, Thị đã cúi gằm ăn một mạch bốn bát bánh đúc. Ăn xong còn lấy đũa quẹt ngang miệng và khen ngon… Trong đói khát cùng cực, thị gần như đánh mất đi nhân cách, sự tế nhị của con người.

Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng. Tiếng thở dài thất vọng vì hoàn cảnh của Tràng cũng chẳng có gì khá hơn thị. Tràng đau chỉ nghèo mà còn có mẹ già, còn phải lo toan, biết có cưu mang thị nổi hay không, hay có thể sẽ khiến cuộc đời của thị thêm khổ. Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương. Ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái ấm gia đình thực sự, bởi thế thị quyết định gắn kết với tràng, trở thành một phần trong gia đình, bất chấp ngày mai ra sao.

Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói. Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người. Nói điều này, chắc chắn nhà văn thật sự xót xa và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo của người lao động. Khi trở thành vợ Tràng, thị đã trở về với chính con người thật của mình là một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang. Điều đó được thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng vào lúc trời chạng vạng. Thị ngượng ngùng đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, “rón rén, e thẹn, ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia”… . Lúc này, trông thị thật tội nghiệp, cảnh cô dâu mới theo chồng về nhà: một cảnh đưa dâu không xe hoa, chẳng pháo cưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối của những người trong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết tang thương… Hành trang bước đến với hạnh phúc của thị là cả cuộc đời đen tối và nỗi lo sợ không thể nói nên lời.

Thế nhưng, có cái gì đó thật mới mẻ đã làm thay đổi người đàn bà ấy. Sau một ngày làm vợ, chị dậy thật sớm, quét tước, dọn dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ. Đó là hình ảnh của một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, một người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình chứ không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa.. Thị hiện rõ là một người vợ hiền, một cô dâu thảo. Cuộc sống có cái gì đó khởi sắc mà không ai có thể lí giải được.

Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, bà cụ Tứ dành hết tình cảm cho con dâu mới. Chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời sự khi kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phá kho thóc của Nhật. Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ và chồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai.

Qua hình tượng người vợ nhặt, nhà văn đã mạnh mẽ lên án tội ác dã man của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp; đồng thời bày tỏ thái độ đồng cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ; thái độ trân trọng tấm lòng nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo; trong lao khổ họ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt.

Tóm lại, người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng. Bóng dáng của thị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về cuộc sống gia đình. Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của cái chết….

6. Những lỗi thường gặp

  • Không phân tích hết các khía cạnh về nhân vật
  • Không phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật
Chia sẻ bởi: 👨 Tiểu Hy
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo