Văn mẫu lớp 12: Phân tích hành động cởi trói của Mị trong Vợ chồng A Phủ 3 Dàn ý & 8 bài văn mẫu lớp 12

Phân tích chi tiết Mị cởi trói cho A Phủ trong Vợ chồng A Phủ gồm 8 bài văn mẫu được chúng tôi tổng hợp từ bài làm đạt điểm cao của các bạn học sinh giỏi. Thông qua tài liệu này giúp các bạn lớp 12 có thêm nhiều gợi ý tham khảo, trau dồi ngôn ngữ, biết cách viết bài văn phân tích ngày một hay hơn.

Hành động cắt dây giải thoát A Phủ của Mị là một trong những hành động lạ lùng, bởi trước đó, Mị đã rơi vào một tình trạng gần như hoàn toàn vô cảm. Nhưng khi nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ, Mị đã động lòng thương. Mị đã biết nghĩ đến sự bất công nếu A Phủ phải chết. Tính đến sự nguy hiểm nếu cắt dây cho A Phủ trốn thoát, Mị không sợ hãi. Vậy dưới đây là 8 bài văn mẫu hay nhất, mời các bạn cùng theo dõi tại đây.

Đề bài: Nhận xét về hành động cắt dây trói cứu A Phủ của nhân vật Mị trong đoạn trích truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, có ý kiến cho rằng: Đây là hành động hoàn toàn mang tính tự phát. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Đây là hành động mang tính tất yếu thể hiện bản chất con người Mị. Bằng hiểu biết về tác phẩm, hãy làm sáng tỏ quan điểm của anh/chị.

Dàn ý phân tích hành động cởi trói của Mị

Dàn ý số 1

GIỚI THIỆU CHUNG

- Năm 1952, nhà văn Tô Hoài cùng với bộ đội tiến quân vào giải phóng Tây Bắc, đi sâu vào những khu du kích của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi. Chuyến đi kéo dài tám tháng đã để lại cho Tô Hoài những ấn tượng sâu sắc. Nhà văn Tô Hoài từng tâm sự: “Cái kết quả lớn nhất và trước nhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không bao giờ quên”. “Truyện Tây Bắc” chính là kết quả của chuyến đi tám tháng ấy không bao giờ quên ấy.

- “Vợ chồng A Phủ” là truyện ngắn đặc sắc nhất trong tập “Truyện Tây Bắc”, cũng là một trong những truyện ngắn Việt Nam xuất sắc trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Tác phẩm là bức tranh chân thực về cuộc sống và con người vùng Tây Bắc, tái hiện số phận đau khổ của những người nông dân nghèo miền núi dưới ách áp bức của thực dân, phong kiến. Đồng thời, tác phẩm cũng là một bài ca về sức sống và khát vọng tự do của người miền núi, là hình ảnh con đường giải phóng và cuộc đổi đời của họ trong cách mạng. Trong cả tác phẩm, nửa đầu của truyện: quãng đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài là phần truyện đặc sắc và có giá trị nghệ thuật hơn cả.

- Về hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ và chạy theo A Phủ, có ý kiến cho rằng, đó là hành động bất ngờ, bột phát. Ý kiến khác thì khẳng định: Hành động đó là hợp lí, bắt nguồn từ sức sống tiềm tàng của nhân vật. Từ nội dung văn bản, có thể làm rõ hơn những ý kiến trên.

PHÂN TÍCH

I. Giải thích các ý kiến

- Ý kiến thứ nhất: hành động Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ và chạy theo A Phủ là hành động bất ngờ, bột phát: ý kiến này đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ so với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

- Ý kiến thứ hai: Đó là hành động hợp lí, bắt nguồn từ sức sống tiềm tàng của nhân vật: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

II. Phân tích, chứng minh

1. Vì sao hành động Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ và chạy theo A Phủlà hành động bất ngờ, bột phát

* Hoàn cảnh:

- Mị vốn là một cô gái con nhà nghèo - “nghèo từ trong trứng” – sinh ra đã mang theo trên người món nợ truyền kiếp của cha mẹ; nhưng đó cũng là cô trẻ giàu lòng yêu đời, ham sống và có tài thổi sáo; Mị còn là một cô gái chăm chỉ, một đứa con hiếu thảo... Mị đang sống những tháng ngày tươi đẹp của tuổi trẻ, dù trong cảnh nghèo khó. Không ít chàng trai theo đuổi cô gái nghèo ấy. Trong một đêm mùa xuân, Mị bị bắt về làm dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra vì món nợ truyền kiếp của bố mẹ Mị. Món nợ ấy – nạn cho vay nặng lãi – đã cột chặt bao người nghèo vào số phận nô lệ.

* Diễn biến tâm trạng Mị khi làm dâu gạt nợ ở nhà thống lí Pá Tra:

- Những ngày đầu về làm dâu, Mị phản kháng quyết liệt: hàng mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, Mị định tự tử bằng lá ngón. Nhưng Mị chết đi thì nợ kia vẫn còn. Thương cha, Mị lại tiếp tục cuộc sống làm dâu gạt nợ.

- Lâu dần, chuỗi ngày triền miên những vất vả cực nhọc không dứt đã làm tê liệt cả ý thức về bản thân và những mong muốn thay đổi số phận ở Mị. Giờ đây, Mị an phận và cam chịu thân phận nô lệ trong nhà thống lí. “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa… ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”.

- Con người bị áp bức, nếu cứ nhẫn nhục chịu đựng, kéo dài đến một lúc nào đó, sẽ bị tê liệt cả ý thức, tinh thần phản kháng. “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Mị cam chịu thân phận lùi lũi, chỉ biết ngồi trong cái buồng kín mít, trông ra cửa sổ vuông mờ mờ trăng trắng, “đến bao giờ chết thì thôi”.

=> Mị sống như một cái bóng vật vờ, sống mà như đã chết, không còn cả ý thức về thời gian nữa. Mị không còn nhớ mình về làm dâu nhà Pá Tra bao năm. Ý thức phản kháng trong con người Mị tưởng chừng như đã bị tê liệt.

* Từ diễn biến tâm trạng trên, hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ là hành động bất ngờ, bột phát

- Trong tác phẩm, Mị và A Phủ cùng là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra, song họ không có quan hệ tình cảm gì cụ thể, thậm chí là Mị đã gần như tê liệt hoàn toàn về ý thức, chỉ còn như con trâu, con ngựa. Trong hoàn cảnh A Phủ bị trói đứng đến gần chết, Mị vẫn thờ ơ đến mức như vô cảm trước nỗi khổ của A Phủ. Không ai có thể ngờ rằng, người con dâu bất hạnh và câm lặng ấy lại đột ngột cắt nút dây cởi trói cho A Phủ rồi chạy trốn theo anh. Đây là hành động hoàn toàn không hề có sự chuẩn bị, tính toán từ trước.

2. Vì sao đó là hành động hợp lí, bắt nguồn từ sức sống tiềm tàng của nhân vật

* Sự trỗi dậy mãnh liệt của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc ở Mị

- Mặc dù ở thân phận nô lệ, tù đày, mặc dù nỗi buồn khổ, tủi nhục đã biến Mị thành một cái bóng lặng lẽ, âm thầm; nhưng trong con người Mị vẫn âm ỉ một khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt.Bởi lẽ, Mị là cô gái ham sống, yêu đời, yêu tự do, khát khao hạnh phúc. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù có bị vùi dập đến kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Sức sống ấy chỉ tạm thời bị phủ dưới lớp tro nguội lạnh để chờ cơ hội bùng lên cháy sáng.

- Trong đêm tình mùa xuân: Lúc đầu, Mị nghe tiếng sáo quen thuộc, Mị nhẩm theo bài hát, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời tuổi trẻ... Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Sợi dây của A Sử chỉ có thể “trói” được thân xác Mị chứ không thể “trói” được tâm hồn của một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời.

=> Đó là một đêm có ý nghĩa với Mị, là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn, là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.

- Đêm mùa đông trên núi cao và sự gặp gỡ của hai người cùng cảnh ngộ:

+ Trong đêm mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Lúc đầu, Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay “Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi”. Tưởng chừng như Mị đã chìm trong trạng thái sống gần như vô cảm, nhưng không phải vậy!

+ Đến một đêm, khi “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến gần kề. Chính “dòng nước mắt lấp lánh ấy” đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Mị chợt nhận ra người ấy giống mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lý trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”.

+ Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế”. Chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh” của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị xót xa trước số phận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt dây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này.

* Đặt hành động Mị cắt dây cởi trói và chạy theo A Phủ trong toàn bộ mạch phát triển của câu chuyện và diễn biến tâm lý của nhân vật thì đây lại là một hành động tự nhiên, tất yếu, hợp quy luật. Bởi lẽ, Mị là cô gái ham sống, yêu đời, yêu tự do, khát khao hạnh phúc. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt ở Mị dù có bị vùi dập đến kiệt cùng vẫn không lụi tắt. Mặt khác, Mị vốn là cô gái giàu tình thương, vị tha, biết nghĩ, biết hi sinh cho người khác. Hành động của Mị là kết quả tất yếu của sự bóc lột, đàn áp tàn nhẫn của cha con thống lí nói riêng, tầng lớp phong kiến miền núi cao Tây Bắc nói chung đối với những người lao động nghèo. Hành động ấy chứng tỏ sức phản kháng mãnh liệt, sức sống tiềm tàng và khát khao hạnh phúc luôn cháy bỏng, khả năng hướng về cách mạng một cách tự nhiên của người dân Tây Bắc. Hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ cũng chính là cắt dây cởi trói cho cuộc đời mình.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Việc Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài thoạt nhìn có vẻ bất ngờ, lạ lùng, nhưng xét kĩ, đó là hành động tất yếu, phản ánh bản chất và quá trình phát triển tâm lý tự nhiên của một người luôn tiềm tàng sức sống mãnh liệt và luôn khao khát hạnh phúc cháy bỏng.Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” có dáng dấp của một thiên truyện phân tích tâm lý sắc sảo, tinh tế.

=> Tác phẩm giúp ta càng trân trọng hơn tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả Tô Hoài đối với người dân nơi đây.

Dàn ý số 2

1. Mở bài

  • Giới thiệu khái quát về tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài.
  • Nêu sơ lược về hành động cởi trói cứu A Phủ của nhân vật Mị.

2. Thân bài

a. Giới thiệu khái quát về nhân vật Mị

  • Trước khi về làm dâu nhà thống lí: Xinh đẹp, có tài thổi sáo, có niềm yêu đời,...
  • Sau khi bị A Sử bắt về làm về: Mị bị trói buộc, áp bức.

b. Phân tích diễn biến tâm lí dẫn đến hành động cởi trói cứu A Phủ trong đêm đông của Mị

  • Tâm trạng của Mị trước đêm cứu A Phủ
  • Tâm trạng của Mị khi nhìn thấy giọt nước mắt lấp lánh bò xuống hõm má đã xám đen của A Phủ

- Hành động cắt dây cởi trói:

  • Từ thương mình đến thương người
  • Mị đứng lặng trong bóng tối và sau đó vụt chạy theo A Phủ

c. Ý nghĩa của hành động cởi trói cứu A Phủ trong đêm đông của Mị

  • Hành động cắt dây cởi trói diễn ra dứt khoát và quyết liệt cho thấy nhân vật đã tự giải thoát bản thân thoát khỏi sự trói buộc của cường quyền.
  • Thể hiện rõ sự trỗi dậy mạnh mẽ của sức sống tiềm tàng trong tâm hồn nhân vật Mị
  • Khẳng định tài năng miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài.

3. Kết bài

Khẳng định ý nghĩa hành động cởi trói của Mị đối với giá trị nhân đạo của tác phẩm

Dàn ý số 3

1. Nêu vấn đề nghị luận

- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

- Dẫn 2 nhận định

2. Giải thích

- Ý kiến 1: Hành động hoàn toàn mang tính tự phát là nhấn mạnh vào tính bất ngờ, bỗng dưng phát sinh và thiếu cân nhắc, suy nghĩ, nhận thức khi Mị quyết định cắt dây trói cứu A Phủ.

- Ý kiến 2: Hành động mang tính tất yếu, thể hiện bản chất con người Mị là nhấn mạnh hệ quả đương nhiên của quá trình diễn biến tâm lí dẫn đến sự bừng tỉnh về nhận thức và thúc đẩy hành động; là phản ứng đương nhiên của một con người vốn dĩ đã rất can đảm, có ý thức phản kháng quyết liệt và giàu tình yêu thương,…

3. Phân tích, lí giải tình tiết

- Mị vốn dĩ là một cô gái trẻ trung, yêu đời, yêu tự do; can đảm và có tinh thần phản kháng mạnh mẽ; giàu tình thương ( thổi sáo trong những đêm tình mùa xuân; không muốn về làm dâu nhà thống lí, đã khóc hàng mấy tháng và có ý định tự tử; vì cha già mà chấp nhận cuộc sống khổ nhục) (1.0)

- Dù chịu đựng nỗi đau đến mức gần như tê liệt những cảm xúc, sức sống nhưng Mị cũng đã thức tỉnh và bừng lên một khát vọng mãnh liệt trong đêm tình mùa xuân. Tuy nhiên, tất cả đã bị A Sử dập tắt tàn nhẫn.(0.5)

- Những đêm mùa đông thức sưởi ấm, lúc đầu thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn lạnh lùng, thản nhiên. Nhưng khi nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ, Mị nhớ lại tình cảnh của mình, nhận ra sự độc ác của cha con thống lí Pá Tra. Thương mình từ đó mà cũng thương người +nghĩ về số phận mình và cái chết vô lí của A Phủ đã thôi thúc Mị cởi trói cho A Phủ. (1.0)

4. Đánh giá nhận định

- Ý kiến thứ nhất đã đánh giá chưa đúng về hành động của Mị, hành động giải thoát bất ngờ, đột ngột song không hoàn toàn là tự phát mà là kết quả của một quá trình thay đổi từ tình cảm đến nhận thức và hành động, có đắn đo suy nghĩ trong quyết định; là kết quả của một quá trình bị dồn nén, bức xúc về tinh thần đòi hỏi phải được giải thoát.

- Ý kiến thứ hai xuất phát từ sự đánh giá toàn diện và hiểu biết sâu sắc về tác phẩm đặc biệt là diễn biến nội tâm nhân vật Mị. Hành động này xuất phát vào đúng khoảnh khắc có tính chất quyết định cho sự trỗi dậy của nhân vật. Nó là sự hồi sinh, là biểu hiện của tinh thần phản kháng quyết liệt, là kết quả của tình thương và sự đồng cảm của những con người cùng khổ, là hành động tất yếu của một con người khi đã thay đổi về tình cảm lẫn nhận thức. Qua đó, tác giả đã phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp của người dân miền núi; tạo nên giá trị nhân đạo cho tác phẩm.

(Nếu hs cho rằng đây là hành động tự phát bởi tính đột ngột, không chủ định từ trước thì phải có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục)

5. Nghệ thuật

Phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo, ngôn ngữ đầy chất thơ, lời văn giàu chất tạo hình,…

6. Khẳng định vấn đề

Xem thêm: Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ

Phân tích đoạn Mị cởi trói cho A Phủ - Mẫu 1

Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài hấp dẫn người đọc không chỉ ở hiện thực cuộc sống con người miền núi Tây Bắc được tái hiện với những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, những phong tục tập quán lạ lùng, mà còn ở sự bất ngờ của số phận nhân vật. Người đọc khó lường trước những bước ngoặt trên đường đời các nhân vật chính. Không ai ngờ, Mị - một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, tài hoa, giàu nghị lực sống lại trở thành một người buồn bã, không còn biết nói cười vì bị dìm xuống đáy sâu của cuộc sống khổ đau. Rồi lại cũng không ngờ, chính con người nô lệ ấy đã cắt dây giải thoát một người đàn ông bị trói đứng vào cột, để rồi cùng anh ta chạy trốn khỏi nơi bị đọa đày.

Hành động cắt dây giải thoát A Phủ của Mị là một hành động lạ lùng, bởi trước đó, Mị đã rơi vào một tình trạng gần như hoàn toàn vô cảm. Những công việc nặng nhọc triền miên cả ngày lẫn đêm, những hành động vũ phu tàn bạo của chồng, sự đối xử bất nhân của nhà thống lí đã khiến Mị không còn ý thức về mình. Có những đêm giá lạnh, Mị dậy ngồi hơ lửa, A Sử đi chơi về trông thấy, ngứa chân đạp ngã bên bếp, đêm sau Mị vẫn dậy nhóm bếp hơ lửa như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Mị hành động như một kiểu phản xạ có điều kiện của loài vật. Mấy ngày đêm chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, bị bỏ đói khát ngoài trời giá rét, Mị vẫn không hề động lòng. Thậm chí, nếu A Phủ chết đứng, Mị cũng không thương cảm. Dường như nỗi đau khổ đã làm trái tim Mị trở nên chai lì.

Nhưng khi nhìn thấy giọt nước mắt chảy dài trên gò má sạm đen dưới ánh lửa bập bùng của A Phủ, Mị đã động lòng thương. Mị đã biết nghĩ đến sự bất công nếu A Phủ phải chết. Tính đến sự nguy hiểm nếu cắt dây cho A Phủ trốn thoát, Mị không sợ hãi. Thế nhưng, khi dây trói đứt, A Phủ vùng chạy, chỉ còn một mình, nỗi sợ hãi lập tức ập đến. Bản năng sống còn rất mạnh cho Mị hiểu rằng, cái cọc không kia chính là sự hiện hình của cái chết. Câu nói: “A Phủ, cho tôi đi [...] Ở đây thì chết mất” cho thấy Mị vẫn luôn luôn hướng về sự sống. Mị và A Phủ đã chạy băng rừng hàng tháng trời để thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra, thoát khỏi Hồng Ngài - nơi đối với họ thực sự là địa ngục trần gian.

Việc Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài thoạt nhìn có vẻ bất ngờ, lạ lùng, nhưng xét kĩ, đó là hành động tất yếu, phản ánh bản chất của một người luôn tiềm tàng sức sống, luôn phản kháng quyết liệt. Những ngày sống với cha, khi thống lí muốn đưa Mị về làm dâu trừ nợ, Mị đã chối từ dứt khoát. Cô thà hằng năm phải cuốc nương ngô trả nợ còn hơn bị bán cho nhà giàu. Bị A Sử lợi dụng tục cướp vợ lừa bắt, Mị đã dám tìm đến cái chết để tự giải thoát. Ngay cả trong một đêm xuân, khi tâm hồn rạo rực trở lại, nếu có nắm lá ngón, Mị sẽ ăn cho chết đi, không buồn nhớ đến nữa. với Mị, sống mà bị đọa đày đau khổ, thà chết còn hơn. Những cái chết thoáng qua đầu óc Mị trong những cảnh ngộ cụ thể không làm mất đi bản năng hướng về sự sống của cô. Cho nên, trong đêm tình mùa xuân, khi trai gái cất tiếng sáo hẹn hò, khi nhớ lại những câu hát tình tứ ngày nào, khi hơi rượu đã làm chếnh choáng, Mị muốn trở lại với thời trẻ trung sôi nổi để được sống với những gì mình khao khát.

Chuỗi sự kiện đời Mị mà Tô Hoài miêu tả trong phần đầu Vợ chồng A Phủ đã giúp người đọc hình dung rõ nét bản chất của một con người. Nó cắt nghĩa vì sao giữa lúc tưởng đã đối mặt với cái chết, Mị đã trỗi dậy khát vọng sống mãnh liệt, vùng lên, băng vượt qua tất cả để tìm đến cuộc sống tự do.

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 2

Sự kiện nhân vật Mị cởi trói, giải thoát cho A Phủ và tự giải thoát cho mình trong truyện Vợ chồng A Phủ là một sự kiện then chốt, thể hiện nổi bật chủ đề và giá trị nhân đạo của tác phẩm. Xây dựng sự kiện này, nhà văn Tô Hoài đã chứng tỏ tài năng xuất sắc của mình trong nghệ thuật dựng truyện và khắc họa tính cách nhân vật.

Thời điểm Mị cởi trói phù hợp với lôgic phát triển của mạch truyện. Nhà văn đã chuẩn bị và tạo được sự diễn biến hết sức tự nhiên để sự kiện xảy ra như một sự tất yếu. Nếu cho đến trước sự kiện này, người đọc chỉ thấy Mị là một con người không còn ý thức về sự sống, sống mà như chết (Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị cũng tưởng mình là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm thôi. [...] Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa) thì sự trỗi dậy của Mị thiếu cơ sở thuyết phục, sẽ khiên cưỡng, không tự nhiên. Song Tô Hoài đã rất tinh tế và sâu sắc khi trước đó đã để lòng ham sống, khát khao hạnh phúc, ý thức về cuộc sống của Mị thức dậy trong đêm mùa xuân. Từ những tác động, kích thích của không khí đầy sức sống của mùa xuân, từ tiếng sáo gọi bạn tình và cả men rượu, trong Mị đã dần sống lại những kỉ niệm, những khát khao của tuổi trẻ đã từng có trong chị, kéo theo là ý thức về thời gian, cuộc sống, thân phận mình. Và Mị thắp cho đèn thêm sáng, quấn lại tóc, lấy váy hoa chuẩn bị đi chơi. Ngay cả khi bị A Sử trói đứng vào cột nhà, Mị vẫn nồng nàn tha thiết với niềm khao khát sống. Gần hơn với sự kiện cởi trói, không ngẫu nhiên đúng đêm ấy Mị ra ngồi thổi lửa, hơ tay, hơ lưng mà đây là việc đã trở thành thói quen của Mị từ trước, , ngay cả khi A Phủ đã bị bắt trói: Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị nhìn sang, thấy mắt Ả Phủ trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Cho đến đêm diễn ra sự kiện cởi trói, khi Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mờ, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại thì trong Mị mới chợt trào lên nỗi đồng cảm trước tình cảnh đau đớn, tuyệt vọng của A Phủ. Thoạt đầu là sự đồng cảm của người cũng đã từng phải chịu đựng cảnh trói đứng như thế, rồi Mị liên tưởng đến chuyện từng có người đàn bà bị bắt trói cho đến chết cũng ở nhà này. Ý thức phản kháng bắt đầu nhen nhóm: Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đến mai là người kia chết, chết đau, chả đói, chết rét, phải chết. [...] Người kia việc gì mà phải chết thế.. Đến thời điểm Mị nghĩ đến việc phải trói thay vào đấy, chết trên cái cọc ấy mà Mị cũng không thấy sợ thì sự đồng cảm, ý thức phản kháng đã đủ để biến thành hành động táo bạo: cắt dây trói cứu A Phủ. Ngay sau đó, lòng ham sống, hy vọng sống, ý thức về sự sống của mình bừng lên trong Mị và chị chạy theo A Phủ, tự giải thoát cho cuộc đời nô lệ của mình.

Như vậy, tùng bước, theo sự phát triển của mạch truyện và diễn biến tâm lí nhân vật, hành động cởi trói của Mị là một lựa chọn nghệ thuật đích đáng. Trong sự khắc họa tính cách nhân vật, có thể xâu chuỗi những biểu hiện nhất quán: dự định ăn lá ngón tự tử đến dự định đi chơi trong đêm mùa xuân và cuối cùng là cởi trói. Điều đó nói lên, sự sống, ý thức và niềm khao khát về hạnh phúc chưa hề lụi tàn trong con người Mị, có khi nó được bộc lộ ra, có khi tiềm tàng sống đó là một sức sống mãnh liệt. Khẳng định điều này, Tô Hoài đã bộc lộ một cách nổi bật tư tưởng nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 3

"Vợ chồng A Phủ" là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Tô Hoài. Bằng tình yêu và vốn hiểu biết sâu rộng về nền văn hóa cùng phong tục tập quán của nhiều miền đất, tác giả đã đưa độc giả khám phá cuộc sống của con người Tây Bắc một cách chân thực, sinh động. Thông qua tác phẩm, độc giả có thể thấy được bức tranh thiên nhiên núi rừng với vẻ đẹp thơ mộng cũng như cuộc sống lao động và số phận của con người dưới ách áp bức của cường quyền bạo lực cùng sự trói buộc của thần quyền lạc hậu. Tuy nhiên, nổi bật hơn cả là khúc ca về khát vọng tự do và sức sống tiềm tàng của người dân lao động Tây Bắc được thể hiện tập trung qua nhân vật Mị, đặc biệt là hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ của Mị.

Bằng những lời giới thiệu độc đáo, tác giả Tô Hoài đã từ từ gợi mở về số phận của một người con gái đẹp nhưng thân phận lại "không bằng con trâu, con ngựa" trong nhà thống lí Pá Tra: "Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy một cô gái quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa". Ít ai có thể ngờ rằng, Mị từng là cô gái trẻ đẹp, thổi sáo rất giỏi với niềm yêu đời, yêu cuộc sống tự do và là niềm mơ ước của biết bao chàng trai. Mị chính là hiện thân cho vẻ đẹp của người thiếu nữ núi rừng Tây Bắc qua vẻ đẹp vừa tự nhiên, vừa khoáng đạt. Tuy nhiên, người con gái xinh đẹp, tài năng đó lại trở thành nạn nhân của hủ tục và cường quyền bạo lực. Sau khi bị A Sử bắt về, Mị bị trói buộc, áp bức về cả thể xác lẫn tinh thần và chỉ được xem như một công cụ lao động, sống qua ngày âm thầm như một cái bóng.

Trước đêm cứu A Phủ, đã có lần sức sống tiềm tàng trong Mị trỗi dậy. Đó là khi ánh sáng le lói của niềm ham sống lắng nghe, cảm nhận được tiếng sáo gọi bạn tình vang vọng khiến tâm hồn của Mị "thiết tha bổi hổi". Sự đổi thay của ngoại cảnh khi mùa xuân đến cùng hơi men rượu cay nồng cũng là chất xúc tác khiến Mị "phơi phới trở lại" và nhận thức được "Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi". Tuy nhiên, khao khát vừa mới chớm nở đó của Mị đã bị A Sử dập tắt.

Trước cảnh tượng A Phủ bị trói, ban đầu Mị hoàn toàn dửng dưng, vô cảm và lãnh đạm, bởi Mị đã quá quen với những cảnh áp bức bóc lột mà cha con thống lí Pá Tra gây ra. Tuy nhiên, khi nhìn thấy dòng nước mắt lấp lánh "chảy xuống gò má đã xám đen lại" của A Phủ thì dòng nội tâm của của cô gái "Sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" đột nhiên có những giằng xé và chuyển biến dữ dội. Ban đầu, sự đồng cảm và tình yêu thương trỗi dậy trong tâm hồn của một cô gái tưởng chừng như đã tê liệt cảm giác về sự sống. Mị nhớ lại đêm mà A Sử tàn nhẫn trói Mị, Mị thương mình và thương người. Mị thoáng nghĩ đến hình phạt mà Mị sẽ phải gánh chịu khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, nhưng rồi, tình yêu thương, sự đồng cảm đã chiến thắng và trở thành động lực thúc đẩy Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ. Sau hành động liều lĩnh đó, Mị đứng lặng trong bóng tối và vụt chạy theo A Phủ, giải thoát bản thân thoát khỏi hủ tục thần quyền và ách áp bức bóc lột của cha con thống lí Pá Tra.

Hành động cắt dây cởi trói diễn ra dứt khoát và quyết liệt cho thấy nhân vật đã tự giải thoát bản thân thoát khỏi sự trói buộc của cường quyền. Đồng thời, thể hiện rõ sự trỗi dậy mạnh mẽ và sức sống tiềm tàng trong tâm hồn nhân vật Mị. Nếu như trong đêm tình mùa xuân, ý thức về sự sống, về tuổi xuân mới chỉ chớm nở thì hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ đã thể hiện rõ ngọn lửa của sức phản kháng táo bạo vẫn luôn âm ỉ trong tâm hồn Mị, bởi "cái cọc" và "dây mây" - hai dụng cụ được sử dụng để trói A Phủ chính là hình ảnh ẩn dụ cho ách thống trị và bản chất tàn bạo của bọn cường quyền, bọn chúa đất miền núi. Bởi vậy, hành động cắt dây mây cởi trói cho A Phủ chính là hành động thể hiện khát vọng tự do vẫn luôn ẩn sâu trong tâm hồn của cô gái tưởng chừng như đã mất đi ý niệm về cuộc đời. Qua đó, chúng ta có thể thấy được tài năng của nhà văn Tô Hoài trong việc miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật. Từ đêm tình mùa xuân đến đêm cắt dây cởi trói cho A Phủ là một hành trình mang tính quy luật để tìm lại chính mình và tự giải thoát bản thân thoát khỏi "gông xiềng" của cường quyền.

Như vậy, qua hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ của Mị, chúng ta có thể thấy được sức sống tiềm tàng mãnh liệt luôn tồn tại trong tâm thức của cô gái ham sống và yêu tự do mà không một "gông xiêng", sợi dây nào có thể trói buộc và dập tắt. Đó cũng chính là một trong những yếu tố làm nên giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác phẩm "Vợ chồng A Phủ".

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 4

Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo bậc nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại với gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện… và “Vợ chồng A Phủ” được xem là truyện ngắn đặc sắc nhất trích từ tập Truyện Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” đã khắc họa thành công bức tranh hiện thực của người dân miền núi dưới ách thống trị của bọn thực dân nửa phong kiến. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi mở đường giải thoát cho thân phận hai kẻ nô lệ bất đắc dĩ – Mị và A Phủ. Trong đó, diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu đậm nhất.

Trước tiên, chúng ta cần khái quát lại nội dung của truyện. “Vợ chồng A Phủ” xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật chính – Mị và A Phủ. Đó là hai con người trẻ trung, giàu sức sống, yêu đời và tài năng nhưng chẳng may lại trở thành nô lệ, mang lấy kiếp trâu ngựa, bị áp bức bởi bọn thực dân phong kiến mà điển hình ở đây là gia đình thống lý Pá Tra. Mị trước khi làm dâu là cô gái xinh đẹp, những ngày Tết “trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị”, hiếu thảo “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”, tài năng “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi”. Còn A Phủ tuy chịu mất mát từ nhỏ “Anh của A Phủ, em A Phủ chết, bố mẹ A Phủ cũng chết. Còn sót lại một mình A Phủ” nhưng lại có bản lĩnh hơn người “không chịu ở dưới cánh đồng thấp”. Bên cạnh đó, A Phủ còn là chàng trai khỏe mạnh, tài giỏi “đã biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và săn bò tót rất bạo”, “A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê”…. Mị vì món nợ gia đình mà trở thành con dâu gạt nợ. A Phủ vì tội đánh A Sử mà trở thành nô lệ. Hai con người lương thiện phải chôn vùi cuộc đời tươi trẻ của mình dưới gầm trời nhà thống lý. Trong đêm tình mùa xuân, Mị đã tỉnh lại quá khứ tươi đẹp khi xưa nhờ men rượu và tiếng sáo. A Phủ vì để mất một con bò mà bị bắt trói đứng nhiều đêm liền. Trước tình cảnh đó, ban đầu Mị dửng dưng, vô cảm. Dần dần, lòng thương người trỗi dậy, Mị quyết định cắt dây cởi trói cho A Phủ. Có thể thấy, diễn biến tâm trạng của nhân vật Mị đã được Tô Hoài miêu tả một cách sinh động, tài hoa.

Trước đêm cởi trói cho A Phủ, Mị là cô gái vô cảm. Như chúng ta đã biết, sau khi về làm dâu gạt nợ, thực chất là con ở không công nhà thống lý, Mị bị đày đọa về thể xác và tước đoạt về linh hồn. Tô Hoài đã nhiều lần so sánh hình ảnh Mị với loài vật không hơn không kém “Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”, “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm lẫn ngày”, “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”… Sự chai lì cảm xúc đã in hằng lên gương mặt xinh tươi ngày trước đến mức Mị chẳng còn màng đến cái chết nữa bởi “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Phải chi Mị còn muốn tự tử, phải chi Mị còn đau đớn bởi sự bất công, đày đọa của cuộc đời này thì ít ra, ta còn thấy Mị còn sót lại chút lí tưởng sống. Đằng này, Mị gần như từ bỏ, gần như buông xuôi, gần như chấp nhận sự phi lý, bất nhân của cuộc đời như một lẽ thường hằng. Đến đêm tình mùa xuân đến, sức sống tiềm tàng trong Mị trỗi dậy nhưng lại nhanh chóng bị dập tắt bởi sự bạo tàn của A Sử “A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị”. Bị trói đứng cả đêm nhưng Mị vẫn nghe hơi rượu, nghe tiếng sáo, vẫn giật mình cựa quậy khi nhớ câu chuyện rùng rợn ngày trước “ở nhà thống lý Pá Tra có một người trói vợ trong nhà rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”. Ý thức về sự sống trỗi dậy nhưng có vẻ còn quá yếu ớt để đòi hỏi một sự giải thoát, một cuộc cách mạng.

Gặp A Phủ bị gia đình thống lý Pá Tra trừng phạt tàn nhẫn – trói đứng ngoài sân nhiều đêm liền nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Than ôi! Còn sự nhẫn tâm nào hơn! Mị từ cô gái vui vẻ, yêu đời nay trở thành kẻ lạnh lùng, vô cảm. Trước những người cùng cảnh ngộ, Mị chẳng còn đủ nước mắt để xót thương. Lúc ấy, chỉ còn Mị với ngọn lửa vô tri vô giác ngoài kia.

Trong lúc cởi trói cho A Phủ, tâm trạng Mị chuyển hóa từ vô cảm đến đồng cảm. Mị mơ hồ thấy tội, thấy thương cho A Phủ. Mị đặt ra nghi vấn cho kiếp nô lệ mà chàng trai bất hạnh kia phải gánh lấy. Mị nhớ đến đời mình như một điều tất yếu, một sự liên hệ giữa những người cùng gánh lấy cuộc đời bi kịch, cùng là những con người thấp cổ bé họng. Họ đã cam chịu bấy lâu nay, đã bị giày xéo thể xác lẫn linh hồn.

Chi tiết đánh dấu sự chuyển biến tâm lí của Mị là giọt nước mắt của A Phủ “Ngọn lửa bập bùng sáng, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Lòng nhân đạo trong Mị bừng tỉnh, Mị nhận ra tội ác của kẻ thù, xót thương cho tình cảnh của người vô tội “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta cho đến chết, nó bắt mình cũng chết thôi”, “chúng nó thật độc ác”, “cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”, “người kia việc gì mà phải chết thế”…. Cô Mị vô cảm ngày trước giờ nhận ra sự phi lý trong kiếp đọa đày.

Từ đó, lòng thương người trong đã âm thầm mạnh mẽ lớn lên trong Mị, đưa Mị đến một quyết định táo bạo: cắt dây cởi trói cho A Phủ “Mị lấy con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây”.

Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị bắt đầu hiện thực hóa cuộc lội ngược dòng ý thức cá nhân. Sự sống và cái chết gần trong tấc gang, buộc Mị phải thực sự đối đầu với sự lựa chọn. Hoặc là trở thành cái xác thay thế cho A Phủ, hoặc là mạo hiểm làm một cuộc giải thoát “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Cuối cùng, sức sống tiềm tàng và khao khát tự do đã chiến thắng “Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi”. Bước chân của Mị bây giờ không có sự đàn áp nào của cường quyền, thần quyền ngăn cản nổi “Ở đây thì chết mất”. Qua hành động chạy theo A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc nhất, thể hiện tiếng nói cứu lấy con người từ trong tận cùng đầy ải, đau thương “Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình”.

Thông qua ba quá trình diễn biến tâm lí cơ bản: trước, trong và sau khi cắt dây cởi trói, Tô Hoài đã thể hiện được tài năng của bản thân thông qua ngòi bút khắc họa nhân vật. Từ ngoại hình đến tính cách, chân dung Mị và A Phủ hiện lên sinh động và mang đậm màu sắc của người dân lao động vùng cao Tây Bắc. Đồng thời, người đọc còn được thấy rõ sự phản kháng, tranh đấu, vượt thoát khỏi cuộc sống tăm tối để tìm đến tự do, hạnh phúc trong chặng đời về sau.

Tóm lại, diễn biến tâm trạng trong đêm cởi trói cho A Phủ mang tính chuyển biến mạnh mẽ, đánh dấu một cuộc lội ngược dòng táo bạo. Qua đó, ta thấy được con đường giải thoát, niềm tin và lý tưởng của các nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài nói riêng và các nhà văn sau cách mạng nói chung.

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 5

Văn chương không chỉ đơn giản là thú vui bình sinh lúc an nhàn mà còn là “điểm tựa” cho con người mỗi phút giây yếu lòng. Nó đem lại cho ta niềm tin yêu cuộc sống và vững tin vào chính mình để thay đổi. Những sự “đổi đời” không phải nhờ có phép màu của ông Bụt, bà Tiên mà từ chính sức mạnh, tiềm lực bên trong. “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài đã làm được điều đó. Con người có thể thoát ra khỏi khổ đau để đến với niềm vui chỉ bởi một hành động: hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ.

Sau Cách mạng, Tô Hoài được ghi nhận là một trong những cây bút khai phá một mảnh đất mới cho văn học cách mạng, đó là mảng văn học viết về miền núi Tây Bắc - một vùng đất xa xôi, hoang vu nơi địa đầu Tổ quốc. Tập "Truyện Tây Bắc" là vụ mùa thu hoạch từ chuyến đi thực tế lên Tây Bắc của Tô Hoài năm 1952. Trong số ba truyện ngắn được giải Nhất Giải thưởng của Hội Văn Nghệ Việt Nam 1954 - 1955, "Vợ chồng A Phủ" có lẽ là truyện ngắn đọng lại ấn tượng sâu sắc nhất. Có thể nói: “đất nước và người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên….” chẳng những nhắc nhớ người nghệ sĩ ấy ngày quay trở lạ mà còn “phải đem trả cho những người thương ấy” “một tấm lòng mình, một cái gì làm hiện lại cả cuộc đời người H'mông trung thực, chí tình…”.

Đọc truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, ta không thể quên được gương mặt “buồn rười rượi” của Mị. Đó là gương mặt mang nỗi đau của một kiếp người không bằng ngựa trâu. Đó là gương mặt tưởng như cam chịu, mất hết sức sống. Gương mặt buồn rười rượi ấy không phải là gương mặt đầu tiên của cuộc đời Mị. Mị lớn lên, xinh đẹp với bao nhiêu khát vọng hạnh phúc. Nhưng chính những hủ tục phong kiến đã biến người con gái kia quên mất đi gương mặt hi vọng của mình mà trở nên lầm lũi, chẳng thiết vui cũng nắng, xanh cùng cỏ cây. Và có lẽ Mị sẽ sống như thế đến chết nếu không có đêm tình mùa xuân và đêm đông. Nhờ có hơi men rượu và hơi ấm của đêm tình mùa xuân, Mị đã cảm nhận được sự sống, khát vọng ở bên trong mình. Nhưng sức sống tiềm tàng bên trong thực sự biểu hiện thành khát vọng sống bên ngoài, thành hành động chỉ xảy ra vào đêm đông ấy…

Ban đầu, khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói đứng, Mị vẫn “thản nhiên thổi lửa, hơ tay”. Vì Mị đã quá quen với cảnh áp bức, bóc lột trong căn nhà này ròi. Đó là hệ quả của chuỗi ngày bị đọa đày. Hơn nữa, Mị và A Phủ- kẻ bị trói đây khác nhau về trạng thái nhưng thân phận cũng đâu có hơn nhau mà có thể nói hai chữ “cứu giúp”.

Nhưng “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” khiến Mị nhớ lại đời mình, nhớ lại những đêm Mị cũng bị trói đứng như thế, những giọt nước mắt còn không sao chảy ra được. Và như thế, từ mình mà nghĩ đến người, từ thương thân Mị cũng hướng tới thương người để rồi căm giận những thế lực tàn ác đã gây ra khổ đau cho những số phận như Mị. Rồi Mị tưởng tượng ra cảnh A Phủ trốn ra được và Mị sẽ là người thế chỗ trong dây trói đó. “Nghĩ thế nào Mị cũng không sợ”, vì đó vẫn là những hình dung, tưởng tượng rất xa.

Và Mị quyết định cởi trói cho A Phủ, chỉ thì thào một tiếng: “Đi ngay”. Rồi “Mị đứng lặng trong bóng tối”, căng thẳng, hồi hộp trước một phút giờ quyết định. Câu văn đứng riêng ra một dòng, là những giây phút quyết định cả cuộc đời và số phận của Mị. Đó như là một bản lề khép mở hai phần đời của Mị: nô lệ - tự do, sống – chết, bóng tối – ánh sáng. Cuối cùng, người con gái cũng chịu cất bước sau bao năm chỉ biết quỳ gối, Mị chạy theo A Phủ, nói: “A Phủ cho tôi đi”, “Ở đây thì chết mất”. Mị đã quyết định chạy trốn khỏi địa ngục, chạy trốn khỏi cái chết. Hành động cắt dây cởi trói cho A Phủ là Mị đang làm ơn cho A Phủ? Không hẳn, cởi trói cho A Phủ khỏi sợi dậy hữu hình, Mị đồng thời cũng là cởi trói cho chính mình khỏi sợi dây vô hình của nỗi sợ hãi, buông xuôi và khổ đau, tù tối. Mị giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ còn giải phóng cho mình bằng khát vọng sống. Khát vọng sống đã cứu Mị, mở đường sống cho Mị thoát khỏi nơi địa ngục tối tăm và không có sự sống kia.

Đoạn văn ngắn chỉ có một vài câu thoại rời rạc, những hành động ngắn ngủi nhưng với ngòi bút tài hoa của Tô Hoài, không gian Tây Bắc vào đêm, bên ngọn lửa, nhân vật như được soi tỏ và tỏa sáng. Nhân vật được miêu tả trong cả một quá trình từ thờ ơ đến rung động, đấu tranh cuối cùng đi đến hành động rất nhanh nhưng lại phù hợp và logic. Qua đó, Tô Hoài đã miêu tả sâu sắc và cảm động sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị. Sức sống ấy như ngọn lửa âm ỉ cháy không dễ gì có thế dập tắt được. Đó chính là niềm tin mãnh liệt của Tô Hoài vào khả năng tự giải phóng để đến với tự do, đến với cách mạng của những người lao động vùng cao bằng năng lượng tự thân của chính họ. Không phải cách mạng là người khai sáng cho những con người khổ đau kia, chính họ, bằng nghị lực và sức mạnh của mình mới có thể cứu được chính mình. Và cách mạng, cùng Đảng là mở đường cho họ, dẫn lối để họ tìm thấy đích hạnh phúc của mình. Ý nghĩa của câu chuyện đã vượt khỏi giá trị nhất thời của văn học: vận động quần chúng, cổ vũ chiến đấu mà vươn tới giá trị nhân bản, nhân văn: đề cao giá trị tự thân, khả năng tự giải phóng của con người – đó chính là giá trị cốt lõi và muôn đời của nhân loại.

Ai đó đã từng nói, khi một tác phẩm kết thúc, sự sống của nó mới thực sự bắt đầu. Sự sống của Mị, của “Vợ chồng A Phủ” vẫn còn đó, dù dấu chấm hết đã điểm,, và sẽ còn sống mãi đến chừng nào con người ta còn cần niêm tin, còn cần tiếp thêm sức mạnh và còn cần “vịn vào để đứng dậy”.

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 6

Mảnh đất Tây Bắc với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ và con người nồng hậu chất phác luôn để lại trong mỗi người ấn tượng sâu sắc. Tuy không sinh ra ở Tây Bắc, nhưng những năm tháng sống và trải nghiệm cùng người dân nơi đây đã để lại cho nhà văn Tô Hoài nhiều tình cảm sâu sắc, từ đó ông viết thành truyện ngắn vợ chồng A Phủ, kể về cuộc đời Mị-cô gái Mèo xinh đẹp, tài năng nhưng phải chịu nhiều đắng cay, khổ cực. Và bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời Mị, cũng là của tác phẩm chính là đêm đông chị cởi trói cho A Phủ.

Mị là cô gái vùng cao xinh đẹp, có tài thổi sáo,nhiều chàng trai theo đuổi. Nhưng lẽ đời vốn thế, hồng nhan thì bạc phận,vì món nợ gia đình khi bố mẹ lấy nhau mà Mị bị A Sử-con thống lí Pá Tra lợi dụng tập tục cổ hủ bắt về làm con dâu gạt nợ. Từ đó, cuộc đời cô bước sang những tháng ngày tăm tối thấm đẫm nước mắt. Cuộc sống cơ cực, tủi nhục ở nhà thống lí Pá Tra đã vùi dập hết sức sống, nhận thức của Mị.

Ban đầu cô còn phản kháng, khóc lóc, toan ăn lá ngón tự tử nhưng rồi thương cha nên Mị tiếp tục sống, lâu dần, Mị mất hẳn ý thức về cuộc đời, về thời gian, không gian, “ở lâu trong cái khổ, Mị khổ quen rồi”, Mị sống mà như đã chết, không còn cả chút ý niệm nào về cuộc sống diễn ra xung quanh.

Tuy nhiên, với sự tinh tế và nhạy cảm, Tô Hoài đã làm sống dậy nhân vật của mình trong đêm tình mùa xuân với tiếng sáo gọi bạn tình ngân vang, tiếng sáo như một hiện hữu trong tâm hồn Mị, thổi bùng lên đốm lửa khao khát tự do, khao khát thanh xuân bấy lâu nay âm ỉ cháy trong sâu thẳm. Nhưng rồi A Sử đã nhẫn tâm dập tắt đốm lửa ấy, hắn trói cô vào cột, tàn nhẫn không để chút niềm tin sống nào len lỏi lên trong người con gái khốn khổ.

Còn A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, vì tội đánh con quan mà phải sống kiếp nô lệ trả nợ, trong một lần mải mê bẫy nhím để hổ bắt mất con bò, A Phủ bị trói đứng vào cột cho đến khi A Sử săn được hổ. Suốt mấy ngày liền gió rét dữ dội, hàng đêm Mị lại trở dậy hơ tay,thản nhiên không quan tâm đến A Phủ bị trói ngay đấy, “dù cho A Phủ có là cái xác đứng đấy cũng vậy thôi”.

Không phải vì cô quá vô tâm độc ác mà vì những chuyện như thế vẫn thường xuyên, thường ngày diễn ra trong nhà này, Mị đã quá quen với những bất công vô lí mà chính cô cũng từng là nạn nhân của chúng. Bỗng một đêm, Mị lén nhìn sang,chợt thấy dòng nước mắt của A Phủ lăn xuống gò má xám xịt tím ngắt vì rét và đói, giọt nước mắt ấy đã làm nhói lên lòng yêu thương trong Mị. Mị nhớ lại đêm xuân ấy, Mị cũng bị trói đứng như thế, nước mắt chảy xuống vô kể mà không làm sao lau hết được, Mị nhớ lại câu chuyện người đàn bà từng bị trói đến chết cũng ngay ở chỗ đó,cô căm thù tội ác của bọn giặc thống lí.

Mị xót thương cho số phận của mình rồi xót thương cho A Phủ “cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” Mị căm ghét những tập tục cổ hủ đã ép buộc cô phải sống đến chết cũng phải rũ xương ở nơi này, nhưng A Phủ không bị trình ma thì việc gì anh ta phải chết thế. Diễn biến tâm lí của Mị phức tạp nhưng cũng rất tự nhiên, hợp lí, từ vô cảm đến xót thương, thương cho mình, thương cho người rồi căm hận sâu sắc bọn chúa đất cường hào “chúng nó thật độc ác”.

Mị muốn cởi trói giải cứu A Phủ, Mị thoáng nghĩ về hậu quả sẽ bị trói thay vào đấy đến chết nếu bị phát hiện, nhưng lúc này “dù có làm sao Mị cũng không thấy sợ” rồi không dừng lại ở suy nghĩ, Mị hành động, cô cầm con dao mây cắt dây cởi trói cho A Phủ. Hành động liều lĩnh này xuất phát từ lòng yêu thương, nỗi xót xa cho thân phận mình và cho những kẻ đồng cảnh ngộ.

Sau một hồi đứng lặng trong bóng tối nhìn theo A Phủ, Mị chạy với theo, rồi hai người trốn sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng. Hành động này là hệ quả tất yếu của quá trình bị áp bức, đè nén, cần được giải tỏa của con người, đồng thời nó cũng khẳng định ý nghĩa cuộc sống và khát vọng tự do đến cháy bỏng của nhân dân lao động miền núi.

Với hình tượng nhân vật Mị, Tô Hoài đã chứng tỏ khả năng phân tích diễn biến tâm lí nhân vật sắc sảo, thể hiện nỗi đau xót đến tận cùng của một số phận đắng cay,đồng thời là sức sống tiềm tàng và tinh thần phản kháng mãnh liệt của Mị thể hiện qua đêm tình mùa xuân và đặc biệt là đêm đông cứu A Phủ. Qua hành động đó, tác giả đã chứng minh một chân lí : Chỉ cần tình yêu thương và lòng dũng cảm, con người có thể cùng lúc thoát ra khỏi hai nhà tù ớn lạnh : cường quyền và thần quyền.

Phân tích hành động cởi trói của Mị - Mẫu 7

Dubos từng nói: “ Văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng”, phải chăng nhà văn dụng công góp nhặt những hạt bụi vàng để kiếm tìm vẻ đẹp man mác trong cuộc đời? Nhà văn Tô Hoài cũng vậy. Thậm chí tác giả còn phát hiện ra cái đẹp của con người lao động trong khổ đau, bóng tối. Tư tưởng đó được nhà văn gửi gắm trong cảnh Mị cởi trói cho A Phủ trích trong tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ”.

Văn học mang theo hơi thở cuộc sống. Vậy nên, sau chuyến đi của nhà văn Tô Hoài và bộ đội tới giải phóng vùng Tây Bắc, suốt tám tháng nghĩa tình với đồng bào tạo nên chất men say chắp cánh cảm hứng sáng tác truyện ngắn “ Vợ chồng A Phủ” trích trong tập “ Truyện Tây Bắc”(1953). Sau trang văn nhà văn khám phá vẻ đẹp tâm hồn người lao động và niềm thấu hiểu nỗi thống khổ của con người nơi đây những năm cách mạng chưa về.

Trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài, A Phủ “ mắc tội” đánh A Sử- con quan, kẻ chà đạp lên tục lệ. Bởi vậy, A Phủ trở thành con ở gạt nợ ở nhà thống lý để chuộc tội. Một lần, chàng để mất con bò, nhà thống lý nổi giận bắt trói đứng ở cột nhà giữa cái lạnh thấu xương trên vùng cao. A Phủ vẫn chịu trói như thế suốt mấy ngày đêm, trong khi cô Mỵ “ thản nhiên” trở dậy thổi lửa, hơ tay, chân để xua tan màn đêm “ dài và buồn”, nơi có thể khiến Mỵ chết héo. Mị vẫn dửng dưng không đoái hoài đến sự xuất hiện của A Phủ, bởi cảnh hành hạ người là chuyện cơm bữa ở nhà thống lý Pá Tra. Hơn nữa, tuy không bị trói nhưng trái tim Mị cũng trở nên chai sạn, cùng phận tôi đòi, đáng thương trong kiếp trâu, ngựa nhà quan.

Những tưởng rằng, cái chết gặm nhấm sẽ nhấn chìm A Phủ, nhưng mỗi khi thấy ánh lửa, chàng lại mở mắt. Chi tiết “ một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ là hình ảnh thực chỉ giọt nước mắt long lanh ánh chiếu ngọn lửa ấm nồng, nhưng chi tiết gợi lên giọt châu của tâm hồn loài người. Khi bị bắt, A Phủ không kháng cự khiến ta tưởng rằng chàng yếu đuối, khuất phục. Nhưng không, lần này khi cơ hội sống mong manh, dòng nước mắt nói lên khát vọng sống mãnh liệt mà bất lực.

Hình ảnh trong giây phút ngắn ngủi đó, làm sống dậy con người Mỵ. Cô nhớ lại bản thân mình năm trước cũng bị A Sử trói tàn nhẫn như thế. Niềm thương thân dẫn lối tới sự thương người “ người kia việc phải chết thế”, giúp Mỵ biết căm phẫn kẻ gieo giắc cái khổ của đời mình “ Chúng nó thật độc ác”. Lúc đó, cô tưởng tượng ngay cảnh mình cởi trói cho A Phủ, đến hôm sau bị trói thay vào chỗ đó. Nhưng Mỵ không thấy sợ bởi đó chỉ là mường tượng. Suy nghĩ đó là chất xúc tác, dẫn tới hành động Mị “ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây”. Mị đưa ra quyết định dứt khoát, hợp logic tự nhiên. Sau khi cởi trói, A Phủ khuỵu xuống bởi chịu cảnh bụng đói, cật rét, miệng khát, chân tay tê cóng. Song nghe thấy tiếng thì thào “ Đi ngay”, chàng ý thức được sự sống và cái chết mong manh nên “ quật sức vùng lên, chạy”. Niềm ham sống nâng bước chân của chàng thoát khỏi số phận của mình.

Câu văn: “Mị đứng lặng trong bóng tối”, tách biệt một đoạn, tựa như tấm bản lề khép mở hai trang đời của Mị hoặc ở lại hoặc trốn đi, giữa nô lệ và tự do, sống hay chết, bóng tối hay ánh sáng. Mỵ lặng đi xét suy, bởi cô vẫn lo sợ trước sức mạnh của thần quyền và uy quyền bủa vây suốt đời mình. Cuối cùng, nàng chọn nẻo đường thứ hai, nói theo hơi gió thốc “ A Phủ cho tôi đi”, “ Ở đây thì chết mất”. Mị cũng trốn chạy cái chết, cởi trói cứu A Phủ giống như cô tự giải cứu cho mình. Nếu nàng giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ thì khát vọng sống mở đường cho Mỵ. Chi tiết khép lại nhưng hứa hẹn bao điều tốt đẹp về cuộc sống mới của hai con người tự thay đổi cách nghĩ, tìm tới ánh sáng tự do.

Với nghệ thuật dựng cảnh độc đáo và ngôn ngữ sống động như lời ăn tiếng nói của người dân vùng cao, nhà văn truyền tải thông điệp sâu sắc mang nhãn quan thời đại. Đó là sự ngợi ca sức sống tiềm tàng của con người lao động dù cuộc sống bị trói buộc, kìm hãm. Cảnh Mị cởi trói cho A Phủ còn đậm tô niềm tin của nhà văn vào khả năng tự giải phóng để đổi đời. Tư tưởng chạm tới chân lý sống cao đẹp, mang tính nhân bản của nhân loại giúp tên tuổi nhà văn và truyện ngắn “ Vợ chồng A Phủ” mãi dư âm trong lòng độc giả.

Phân tích chi tiết Mị cởi trói cho A Phủ - Mẫu 8

Giá trị nhân đạo được coi là một trong hai dòng tư tưởng chủ đạo xuyên suốt văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho” nên ta có dịp gặp gỡ giá trị nhân đạo mới mẻ của ngòi bút Tô Hoài gửi gắm trong tác phẩm “ Vợ chồng A Phủ”. Thông điệp của nhà văn kết tinh trong đoạn văn Mị cởi trói cho A Phủ trong đêm đông.

Nhà văn Tô Hoài kiếm tìm cái đẹp rất thực giữa trang đời, “ cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”. Vậy nên, sau chuyến đi của nhà văn và bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, tám tháng nghĩa tình với đồng bào tạo nên chất men say chắp cánh cảm hứng sáng tác “ Vợ chồng A Phủ” trích trong tập “ Truyện Tây Bắc”(1953). Sau trang văn nhà văn khám phá vẻ đẹp tâm hồn người lao động và niềm thấu hiểu nỗi thống khổ của con người nơi đây những năm cách mạng chưa về. Giá trị nhân đạo mới mẻ do đặc điểm từng thời đại hay hạt nhân của tình thương yêu, nguyên tắc ứng xử cao đẹp của con người với con người được nhà văn Tô Hoài thể hiện qua nhân vật Mị và A Phủ trong tác phẩm.

Trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài, trai gái được mở hội lòng, A Phủ “ mắc tội” đánh A Sử- con quan vì hắn dẫm đạp lên lệ làng. Sau đó, A Phủ bị bắt làm con ở gạt nợ cho nhà thống lý. Một lần, A Phủ mải bẫy nhím, để hổ bắt mất con bò nên bị thống lý trói đứng vào một cây cột trong góc nhà giữa cái lạnh cắt da, cắt thịt của vùng cao. Trước những đêm đông trên núi cao và buồn, Mị cứ “thản nhiên” thổi lửa, hơ chân tay. Chứng kiến cảnh hành hạ người ăn kẻ ở trong nhà thống lý- một chuyện cơm bữa, quen thuộc không khiến cô bận tâm. Mỵ dửng dưng trước nỗi đau đồng loạt, nhưng Mỵ không phải không có trái tim mà đáng thương hơn đáng trách. Bởi đó cũng chính là sản phẩm của chuỗi ngày đau khổ nàng sống không bằng chết. Tuy Mỵ không bị chói nhưng thực chất họ giống nhau ở thân trâu, kiếp ngựa trong phận tôi đòi.

Có lẽ Mỵ vẫn vô cảm như thế cho đến khi thấy “ một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ cũng như chứng kiến giọt châu của loài người muốn níu giữ cuộc sống mà đành bất lực. Hình ảnh đó khiến nàng nhớ lại đời mình, “ đêm năm trước A Sử trói Mị, nhiều lần khóc không biết lau đi được”. Niềm thương thân dẫn lối tới sự thương người “ người kia việc phải chết thế”, giúp Mỵ biết căm phẫn kẻ gieo giắc cái khổ của đời mình “ Chúng nó thật độc ác”. Lúc đó, cô tưởng tượng ngay cảnh mình cởi trói cho A Phủ, đến hôm sau bị trói tay vào chỗ đó. Nhưng Mỵ không thấy sợ bởi đó chỉ là mường tượng, khoảng cách xa thực tại. Suy nghĩ đó là chất xúc tác, dẫn tới hành động logic đưa Mỹ tới quyết định “ rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây”. Chi tiết “ đám than đã vạc hẳn lửa” chỉ thời gian, ánh sáng ngoại lai tắt dần khi lửa lòng đã đủ sáng, đủ sưởi ấm. Khi được giải thoát, A Phủ khuỵu xuống bởi bụng đói, cật rét, miệng khát nhưng chợt thấy nghe tiếng thì thầm “ Đi ngay”, giữa ranh giới sự sống và cái chết mong manh, A Phủ bừng tỉnh “ quật sức vùng lên, chạy”.

Sau khi cởi trói cho A Phủ, “ Mị đứng lặng trong bóng tối”, câu văn ngắn đứng một dòng. Đứng trước thời gian quyết định, như ngừng lại, tựa như tấm bản lề khép mở hai trang đời của Mị hoặc ở lại hoặc trốn đi, giữa nô lệ và tự do, sống hay chết, bóng tối hay ánh sáng. Mỵ lặng đi xét suy, bởi cô vẫn lo sợ trước sức mạnh của thần quyền và ủy quyền bủa vây suốt đời mình. Cuối cùng, nàng chọn nẻo đường thứ hai, nói theo hơi gió thốc “ A Phủ cho tôi đi”, “ Ở đây thì chết mất”. Mị cũng trốn chạy cái chết, hành động cởi trói cho A Phủ giống như cô tự giải cứu cho mình. Nếu nàng giải phóng cho A Phủ bằng con dao nhỏ thì khát vọng sống mở đường cho Mỵ. Chi tiết khép lại nhưng hứa hẹn bao điều tốt đẹp về cuộc sống mới.

Tác phẩm ra đời trong nhịp thở sôi nổi của văn học cách mạng, nên văn chương trở thành vũ khí, nhà văn làm chiến sĩ trên mặt trận. Lúc đó, ngòi bút của Tô Hoài cất lên góc nhìn nhân đạo độc đáo với sự cảm thông cho thân phận người lao động dưới ách thống trị của chúa đất, chúa mường.

Ngợi ca sức sống tiềm tàng của người cùng khổ, và niềm tin tưởng khả năng tự giải phóng của người lao động hướng tới tự do để đổi đời. Nhãn quan thời đại cách mạng cho tác giả có cái nhìn tích cực của đời sống nhân dân không chỉ thấy họ là nạn nhân mà thấy họ là chủ nhân khi đi từ bóng tối ra ánh sáng. Tư tưởng tác phẩm chạm tới chân lý ngàn đời của con người vào khát vọng sống, tự do nên “ Vợ chồng A Phủ” vượt lên sự băng hoại của thời gian.

Chia sẻ bởi: 👨 Đỗ Duyên
Mời bạn đánh giá!
  • Lượt tải: 143
  • Lượt xem: 122.429
  • Dung lượng: 380,5 KB
Sắp xếp theo