Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương Văn mẫu lớp 9

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương là tài liệu phân tích rõ giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của Chuyện người con gái Nam Xương. 

Nội dung của tài liệu được đăng tải ngay sau đây, mời bạn đọc cùng theo dõi để biết thêm chi tiết. 

1. Hướng dẫn phân tích đề

- Kiểu bài: nghị luận văn học

- Dạng bài: phân tích hai giá trị nội dung của tác phẩm là hiện thực và nhân đạo

2. Dàn ý chi tiết

(I). Mở bài

- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Dữ: Là cây bút kỳ tài của văn học cổ Việt Nam, sống ở thế kỉ XVI, trong tình hình xã hội Việt Nam không còn ổn định. Con người, nhất là phụ nữ, phải chịu nhiều đau khổ do chế độ phong kiến bất công gây nên.

- Tác phẩm: “Truyền kì mạn lục” là một tập truyện viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ phản ánh những mặt xấu xa của chế độ phong kiến đương thời một cách có ý thức, qua đó tỏ bày thái độ của tác giả.

- “Chuyện người con gái Nam Xương” cũng như nhiều truyện trong tập “Truyền kì mạn lục” có giá trị về nhiều mặt, trong đó nổi bật các giá trị hiện thực và nhân đạo cùng với nghệ thuật dựng truyện.

(II). Thân bài

a. Giá trị hiện thực

* Sáng tác dựa trên một câu chuyện xảy ra và được lưu truyền trong dân gian, Nguyễn Dữ muốn mượn chuyện xưa để nói chuyện nay (thế kỉ XVI, thời Nguyễn Dữ sống).

* Chiến tranh, loạn lạc gây ra đau khổ cho con người: Trương Sinh ra lính, phải xa cách mẹ già, vợ trẻ.

- Buổi chia ly thật ngậm ngùi xót xa:

  • Bà mẹ dặn con: “… nhưng trong chỗ binh cách, phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy”.
  • Người vợ tiễn chồng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”.

- Trách nhiệm gánh vác gia đình: Xa con, bà mẹ nhớ con sinh ra ốm. Người vợ trẻ Vũ Thị Thiết vừa nuôi con thơ, vừa tận tình thuốc thang chạy chữa cho mẹ chồng. Nhưng không cứu nổi, mẹ chồng mất, nàng một mình lại lo liệu việc ma chay.

* Lễ giáo phong kiến bất công: Người đàn ông được quyền hành hạ, ruồng rẫy người phụ nữ, dẫn đến cái chết đầy oan khuất của người vợ chung thủy, hiếu nghĩa.

b. Giá trị nhân đạo

Truyện đã xây dựng nên hình tượng Vũ Nương, một hình tượng phụ nữ đẹp với những đức tính đáng quý:

* Đảm đang: Khi chồng ra lính, Vũ Nương đã một mình: nuôi dạy con thơ, nuôi dưỡng mẹ chồng, thuốc thang khi ốm đau, lo liệu ma chay khi mẹ chồng mất.

* Hiếu nghĩa:

- Với mẹ chồng, Vũ Nương giữ tròn chữ hiếu của người con đối với cha mẹ, thay chồng nuôi mẹ chồng, coi mẹ chồng như mẹ đẻ của mình.

- Với chồng, Vũ Nương trước sau vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình:

  • Biết chồng vốn tính đa nghi, “nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”.
  • Khi xa chồng, nàng không để xảy ra điều tai tiếng gì.
  • Khi bị nghi oan, không thể giãi bày được, nàng lấy cái chết để chứng thực nghĩa tình của mình.
  • Sau khi tự vẫn, được “cứu sống” (“sống” ở thủy cung), tuy cuộc sống thanh thản, sung sướng, nàng vẫn nhớ đến chồng, mong được chồng biết đến nỗi oan và giải oan cho mình.

* Trong trắng, thủy chung: Trong suốt những năm Trương Sinh đi lính, ở nhà vừa phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy con thơ và chờ chồng trở về.

c. Giá trị nghệ thuật

- Cách xây dựng tình tiết, thắt nút, gỡ nút đẩy bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan nổi rõ lên với tất cả cái bi thảm của nó:

  • Thắt nút bằng yếu tố bất ngờ: Một câu nói ngây thơ nghe như thật của một trẻ thơ mà gây nên bão táp trong cuộc đời vợ chồng Trương Sinh, Vũ Nương: chồng nghi kị vợ, hạnh phúc gia đình tan vỡ và cuối cùng là cái chết bi thảm của người vợ trong trắng.
  • Gỡ nút cũng bằng yếu tố bất ngờ: Bấy nhiêu bão tố, bi kịch, oan khiên bỗng được làm sáng tỏ cũng bằng một câu nói ngây thơ của một trẻ thơ (“Cha Đản lại đến kia kìa!”), hay nói cho đúng hơn là lời nói đùa của người mẹ với con khi vắng chồng.

(III). Kết bài

- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một tác phẩm giàu giá trị sâu sắc: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo.

- Vũ Nương là một hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong văn chương Việt Nam.

3. Infographic hoặc sơ đồ tư duy

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo trong Chuyện người con gái Nam Xương

4. Gợi ý ý tưởng

- Phân tích giá trị hiện thực, nhân đạo

- Từ nhân vật Vũ Nương, rút ra giá trị hiện thực và nhân đạo

5. Từ ngữ hay

  • phản ánh chân thực
  • lên án mạnh mẽ
  • phê phán sâu sắc
  • tố cáo xã hội phong kiến
  • số phận oan khuất
  • tiếng nói nhân đạo
  • tấm lòng nhân văn
  • khát vọng công lí
  • vẻ đẹp truyền thống
  • phẩm chất cao đẹp
  • giàu giá trị hiện thực
  • thấm đẫm tinh thần nhân đạo
  • niềm cảm thương sâu sắc
  • trân trọng phẩm giá con người
  • đề cao hạnh phúc gia đình
  • gửi gắm thông điệp nhân văn

6. Mẫu tham khảo

6.1 Mẫu 1

Nguyễn Dữ sống vào khoảng thế kỉ XVI, ông là người tài giỏi, ra làm quan một thời gian, sau đó lui về ở ẩn. Cũng trong chính thời gian này ông bắt đầu sưu tầm truyện dân gian và sáng tác lại. “Chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những truyện xuất sắc nhất của Nguyễn Dữ thể hiện sự sáng tạo mới mẻ, đặc biệt thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo.

Trước hết tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực sâu sắc. Tác phẩm phản ánh số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến. Trong xã hội phong kiến xưa, số phận người phụ nữ hết sức bấp bênh, luôn phải phụ thuộc vào người đàn ông, khi ở nhà thì theo ý cha, lấy chồng theo lệnh chồng và kể cả khi chồng mất cũng phải theo con. Số phận họ bị trói buộc, không có cơ hội tìm hạnh phúc riêng cho mình.

Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Nàng Vũ Nương trong tác phẩm cũng là một người phụ nữ chịu chung số phận như vậy. Lấy Trương Sinh vốn không phải do nàng chọn lựa, mà bởi cha mẹ quyết định “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Trương Sinh mến vì dung hạnh nên đã đem trăm lạng vàng cưới về. Cuộc hôn nhân của nàng cũng là cuộc hôn nhân bất bình đẳng, có sự phân biệt giàu nghèo. Ngay từ những dấu hiệu đầu tiên đã dự báo số phận bất hạnh của Vũ Nương. Và quả thật tất cả những gì xảy ra phía sau đó đã chứng minh cho những tiên báo kia. Chồng đi lính về nghe lời con thơ nghi oan cho vợ, Vũ Nương phải chịu nỗi oan lạ lùng: thất tiết với chồng. Một người đoan trang, chính trực như Vũ Nương bỗng phải nhận nỗi oan như vậy tất yếu nàng sẽ lựa chọn cái chết để minh chứng cho sự trong sạch của bản thân. Cái chết của Vũ Nương là sự phản ứng quyết liệt, mạnh mẽ để bảo toàn danh dự, nhân phẩm của mình. Đồng thời cái chết của nàng cũng phản ánh số phận bi kịch bị dồn đến bước đường cùng của người phụ nữ.

Truyện còn phản ánh sự độc đoán, gia trưởng của người đàn ông trong xã hội phong kiến. Như giới thiệu của Nguyễn Dữ, Trương Sinh là kẻ ít học, tính tình lại hay ghen tuông mù quáng. Lấy được Vũ Nương là người vợ thảo hiền, chung thủy nhưng vẫn luôn đề phòng quá mức. Biểu hiện rõ nhất của tính gia trưởng trong Trương Sinh ấy chính là tin lời một đứa trẻ, ruồng rẫy vợ, đẩy vợ đến cái chết. Trương Sinh không hề suy xét, không cho Vũ Nương giải thích, chỉ một mực mắng chửi và nhất quyết đuổi nàng đi. Nếu Trương Sinh có thể bình tĩnh hơn, nghe lời vợ trình bày, nói rõ nguyên do thì có lẽ gia đình đã không xảy ra thảm cảnh như vậy, sẽ không dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương. Có thể thấy Trương chính là kẻ hồ đồ, độc đoán, gia trưởng, là đại diện tiêu biểu cho xã hội phong kiến Nam quyền.

Ngoài ra, giá trị hiện thực của tác phẩm còn thể hiện trong việc lên án chiến tranh phi nghĩa xảy ra liên miên khiến gia đình phải ly tán. Hai vợ chồng lấy nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải lên đường đi lính. Chính cuộc chiến tranh này khiến mẹ phải xa con, chồng phải xa vợ, con không được hưởng tình yêu thương của bố. Chính chiến tranh phi nghĩa là đầu mối đầu tiên đẩy Vũ Nương và gia đình nàng đến bi kịch sau này. Nếu chiến tranh không xảy ra có lẽ gia đình nàng đã được hưởng cuộc sống yên ấm, hạnh phúc.

Đằng sau bức tranh hiện thực đau lòng về số phận bất hạnh của người phụ nữ, chế độ phong kiến Nam quyền và chiến tranh phong kiến, tác phẩm còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Trước hết tác phẩm đã khám phá, phát hiện và trân trọng vẻ đẹp người phụ nữ, mà đại diện ở đây là Vũ Nương. Vũ Nương là người con gái hiền dịu, nết na, thủy chung nàng hết sức giữ gìn khuôn phép để gia đình không chịu cảnh bất hòa. Ngày tiễn chồng ra trận điều nàng mong muốn không phải những bổng lộc, chức tước mà chỉ mong chồng mang hai chữ “bình yên trở về”. Ngay cả lúc bị Trương Sinh nghi ngờ, ruồng bỏ Vũ Nương cũng chỉ một mực dùng những lời lẽ tha thiết để hàn gắn tình yêu. Không chỉ vậy, nàng còn là người con dâu hiếu thảo, với mẹ chồng luôn luôn hết lòng chăm sóc, khi mẹ ốm nàng cầu khấn thần phật, dùng những lời lẽ ngọt ngào mong cho mẹ mau chóng khỏi bệnh. Đến khi bà mất nàng lo tang ma chu đáo, chẳng khác gì cha mẹ đẻ. Ngoài ra nàng còn là người giàu lòng vị tha, bị chồng đánh mắng, đuổi đi khiến mình phải tự vẫn nhưng nàng không hề oán trách. Dưới thủy cung vẫn một lòng hướng về dương gian, hướng về hạnh phúc đời thường. Khoảnh khắc gặp lại chồng, Vũ Nương không trách móc mà còn hết lời cảm tạ Trương Sinh. Lời nói ấy cho thấy Vũ Nương hoàn toàn tha thứ cho chồng. Trương Sinh đã được giải thoát khỏi nỗi ân hận, day dứt vì sự hàm hồ, hẹp hòi, tàn nhẫn của mình. Vũ Nương chính là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.

Qua những lời lẽ miêu tả, giọng điệu tha thiết ta thấy được sự cảm thương cho số phận bất hạnh của Vũ Nương. Niềm cảm thương đó được thể hiện rõ nhất ở chi tiết li kì sáng tạo cuối tác phẩm. Vũ Nương được Linh Phi cứu, sống cuộc đời bất tử. Chi tiết này trước hết hoàn chỉnh, đậm tô nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng tình nghĩa, trọng nhân phẩm và đầy bao dung vị tha. Đồng thời đây cũng là chi tiết giúp khôi phục lại danh dự của nàng.

Ngoài ra tác phẩm cũng là tiếng nói lên án, tố cáo xã hội phong kiến đã đẩy người phụ nữ đến bước đường cùng. Tước đoạt hạnh phúc đời thường, bình dị của họ. Tước đoạt quyền được sống của con người. Đó là tiếng nói lên án mạnh mẽ nhất, đanh thép nhất thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Dữ đối với con người mà ở đây là người phụ nữ.

Chỉ bằng một câu chuyện ngắn ngủi, những Nguyễn Dữ đã gửi gắm, truyền tải biết bao thông điệp ý nghĩa đến với bạn đọc. Là tiếng nói cảm thương cho số phận người phụ nữ; là sự trân trọng, nâng niu những vẻ đẹp nhân cách, phẩm chất của họ. Không dừng lại ở đó tác phẩm còn lên án xã hội phong kiến Nam quyền, chiến tranh phi nghĩa. Tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc, thể hiện tấm lòng nhân văn cao cả của tác giả.

6.2 Mẫu 2

“Chuyện người con gái Nam Xương” là truyện nổi bật nhất trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ. Qua tác phẩm này, tác giả đã gửi gắm đến bạn đọc những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

Trước hết, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khắc họa chân thực cuộc đời của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến:

Thân em như dải lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai .

Hay:

Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

Chịu ảnh hưởng của Nho giáo với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” - số phận của người phụ nữ xưa vô cùng bấp bênh, khổ cực. Họ không được quyền quyết định cuộc đời của bản thân mà phải phụ thuộc vào người đàn ông. Vũ Nương - một cô gái con nhà nghèo được chàng Trương Sinh vốn là con nhà hào phú cảm mến vì tư dung tốt đẹp nên đã xin mẹ đem trăm lạng vàng sang hỏi cưới. Cuộc hôn nhân không tình yêu theo sự sắp đặt của cha mẹ khiến Vũ Nương không được hưởng ngọt ngào của tình yêu. Dù vậy, nàng vẫn cố gắng vun đắp hạnh phúc gia đình. Nhưng chiến tranh lại cướp đi niềm khao khát của nàng. Trương Sinh tuy gia đình giàu có nhưng ít học nên phải đi lính. Cuộc chiến tranh loạn lạc đã đẩy gia đình nàng vào cảnh ly biệt. Bản thân Vũ Nương - một người phụ nữ chân yếu tay mềm nay phải gánh vác việc gia đình: chăm sóc mẹ già, dạy dỗ con thơ. Nàng đã không được hưởng hạnh phúc bình yên, mà còn gánh vác thêm nhiều trách nhiệm. Dành cả tuổi xuân hy sinh cho chồng con, gia đình. Nhưng nàng lại bị Trương Sinh ruồng rẫy, đánh đập. Khi đi lính trở về, Trương Sinh chỉ vì tin lời con trẻ mà nghi là vợ thất tiết. Lễ giáo phong kiến đã buộc người phụ nữ vào gánh nặng danh tiết. Dù Vũ Nương có giải thích cũng không còn được chồng tin tưởng. Nàng chỉ biết cách chọn cái chết để chứng minh sự trong sạch. Cái chết của Vũ Nương một lần nữa cho thấy thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Dù khao khát hạnh phúc gia đình, cuộc sống bình yên nhưng khi sóng gió ập đến họ không thể làm chủ cuộc đời mình. Ở đây, chính xã hội phong kiến Nam quyền mà Trương Sinh chính là đại diện điển hình đã đẩy nàng đến cái chết. Hiện thực tàn khốc khiến nàng dù đã được giải oan, nhưng vẫn không muốn quay trở về làm người, đoàn tụ với chồng con. Bởi Nguyễn Dữ hiểu được hiện thực xã hội lúc bấy giờ là vô cùng bất công với người phụ nữ.

Nổi bật hơn vẫn là tinh thần nhân đạo cao cả của tác phẩm. Nguyễn Dữ đã ca ngợi vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam qua hình ảnh nhân vật Vũ Nương. Nàng mang đầy đủ những nét đẹp truyền thống của một người phụ nữ: công, dung, ngôn, hạnh. Mặc dù xuất thân trong một gia đình bình thường “thiếp vốn con nhà khó” nhưng lại xinh đẹp, thùy mị nết na. Đối với chồng hết mực yêu thương, dịu dàng và biết giữ gìn khuôn phép. Đối với mẹ chồng thì hiếu thảo, chăm lo như chính mẹ đẻ của mình. Đối với con luôn chăm sóc ân cần, lo lắng con thiếu thốn tình cảm mà hết lòng bù đắp. Nàng đã sống trọn tình khi làm tròn bổn phận người vợ, người con dâu và người mẹ. Đặc biệt, môt biểu hiện của giá trị nhân văn khi thông qua Vũ Nương nhà văn muốn gửi gắm tiếng nói đồng cảm về khát vọng tình yêu, hôn nhân của người phụ nữ. Vũ Nương luôn hết mực vun vén cho hạnh phúc gia đình. Biết chồng hay ghen, nàng cố gắng giữ gìn khuôn thước để gia đình luôn hòa thuận. Ngày chồng phải lên đường ra nơi trận mạc, Vũ Nương không mong muốn chồng có thể lập được chiến công hiển hách để “mang ấn phong hầu về”. Vì nàng hiểu Trương Sinh bước ra nơi trận mạc là đang đối đầu với cái chết. Nàng chỉ mong chồng có thể bình an trở về, tức chỉ mong có niềm hạnh phúc gia đình sum họp. Ngay cả khi bị chồng hiểu lầm, Vũ Nương vẫn tìm cách hết lời biện bạch với mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình. Chỉ đến khi lời giải thích đều vô nghĩa, nàng mới tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình.

Trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ, Nguyễn Dữ lại càng xót xa cho số phận bất hạnh của họ. Nhà văn đau đớn cho cuộc đời của một con người có đầy đủ những phẩm chất đáng quý, tận tụy vun đắp cho hạnh phúc gia đình nhưng lại chẳng được hưởng hạnh phúc lâu dài. Lấy chồng chẳng được bao lâu vì chiến tranh mà phải xa chồng. Trong suốt những năm tháng chồng đi chinh chiến, nàng ở nhà chờ đợi đằng đẵng nhưng đến khi trở về chưa được hưởng niềm hạnh phúc gia đình đoàn tụ đã chịu cảnh oan khuất. Nàng hết mực van xin chàng nói rõ mọi nguyên cớ để cởi tháo mọi nghi ngờ; hàng xóm rõ nỗi oan của nàng nên kêu xin giúp, tất cả đều vô ích. Đến cả lời than khóc xót xa tột cùng: “Nay đã bình rơi trâm gãy, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, cái én lìa đàn…” cũng không khiến người chống động lòng. Một người với tấm lòng thủy chung, trong trắng đã bị vùi dập thật tàn nhẫn, phũ phàng.

Nhưng bằng tấm lòng nhân đạo cao cả của mình, tác giả không để cho con người ấy phải chết oan. Điều đó thể hiện ở đoạn kết của câu chuyện. Nhờ có yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, nhà văn Nguyễn Dữ đã để cho nhân vật của mình không chết đi. Vũ Nương đã được chư tiên dưới thủy cung thương tình cứu sống. Nàng sống dưới thủy cung, tình cờ gặp gỡ Phan Lang - một người sống cùng làng và kể lại cho Phan nghe toàn bộ câu chuyện. Phan Lang được lời gửi gắm của Vũ Nương sau khi trở về đến gặp Trương Sinh để giải oan cho Vũ Nương. Sau đó, Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ. Vũ Nương hiện về nhưng không thể sống với chồng và con: “thiếp chẳng thể về với nhân gian được nữa”. Cái kết này cũng chưa hoàn toàn có hậu, bởi hạnh phúc cũng chỉ là ước mơ, Vũ Nương vẫn không thể đoàn tụ với gia đình của nàng, trở về làm người.

Tác phẩm cũng có nhiều thành công về nghệ thuật khi xây dựng được tình huống truyện độc đáo. Các tình tiết thắt nút, mở nút gây ra được yếu tố bất ngờ. Ngoài ra, tác giả cũng tạo ra được chi tiết đắt giá là “cái bóng” - chi tiết thắt nút và mở nút của toàn bộ câu chuyện. Thế mới thấy được tài năng của Nguyễn Dữ khi sáng tạo ra một tác phẩm giàu ý nghĩa để gửi gắm tư tưởng của chính minh.

Tóm lại, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã thể hiện được những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Truyện là bài học sâu sắc để người đọc thêm thấu hiểu và trân trọng cho người phụ nữ.

7. Những lỗi thường gặp

  • Không phân biệt giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
  • Chỉ phân tích tác phẩm, không làm nổi bật được giá trị hiện thực và nhân đạo
  • Thiếu phần đánh giá nghệ thuật góp phần thể hiện nội dung
Chia sẻ bởi: 👨 Tiểu Thu
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo