Phân tích truyện ngắn Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện lớp 10

Phân tích tác phẩm Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc mang đến 2 mẫu khác nhau cực hay, giúp các em học hỏi cách diễn đạt giàu cảm xúc, sử dụng dẫn chứng phù hợp và trình bày bài viết đúng yêu cầu để biết cách viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện lớp 10.

Phân tích truyện ngắn Mùa giáp hạt cực hay dưới đây giúp các em học sinh có thể nắm được cách xác định nội dung chính, phân tích nhân vật, nghệ thuật kể chuyện cũng như cách triển khai luận điểm rõ ràng, mạch lạc. Phân tích truyện Mùa giáp hạt giúp học sinh hình dung rõ cấu trúc và cách triển khai một bài viết hoàn chỉnh, từ mở bài, thân bài đến kết bài, đồng thời rèn luyện kỹ năng viết, từ đó nâng cao khả năng tư duy và sáng tạo. Bên cạnh đó các bạn xem thêm: phân tích truyện Mua nhà, phân tích Chữ người tử tù, phân tích truyện Ăn trộm táo.

Phân tích truyện ngắn Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc

Phân tích truyện ngắn Mùa giáp hạt

Trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại, có nhiều tác phẩm viết về tình cảm gia đình với những trang viết giàu cảm xúc, lay động lòng người. Truyện ngắn Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc là một tác phẩm tiêu biểu, phản ánh nỗi cơ cực, thiếu thốn trong mùa giáp hạt ở một vùng quê nghèo. Nhưng vượt lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt, truyện đã làm sáng lên vẻ đẹp của tình người, đặc biệt là tình cảm bà cháu ấm áp, thiêng liêng. Tình bà cháu trong tác phẩm hiện lên vừa chân thực, vừa cảm động, để lại dư âm sâu lắng trong lòng độc giả.

Hoàn cảnh éo le, khắc nghiệt của hai bà cháu đã để lại sự đồng cảm sâu sắc với người đọc. Đó là mùa giáp hạt – khoảng thời gian khó khăn nhất trong năm của người nông dân. Hạt gạo trong chum vơi cạn, bữa cơm chỉ toàn khoai sắn độn. Càng về sau, bà cháu tác giả phải ăn cháo rau má trộn muối lạc, ba phần gạo, bảy phần rau. Cảnh thiếu đói ấy gợi nhớ về nạn đói năm 1945 khủng khiếp mà dân tộc từng trải qua. Trong cái nghèo đói bao trùm ấy, tình cảm bà cháu càng trở nên nổi bật, là điểm sáng nhân văn của câu chuyện.

Người bà hiện lên trước hết với hình ảnh một con người tần tảo, giàu đức hi sinh. Bà là chỗ dựa duy nhất của hai đứa cháu nhỏ. Dù tuổi đã gần tám mươi, sức khỏe đã yếu, bà vẫn gồng gánh hết mọi lo toan. Bà thức trắng nhiều đêm, trằn trọc suy nghĩ về nợ nần, về miếng ăn từng ngày. Tác giả miêu tả bà ngày càng gầy sọp đi, da vàng vọt, khóe mắt hốc hác. Đó là những dấu vết hằn sâu của sự thiếu thốn, cơ cực. Thế nhưng, dù khổ đau, bà vẫn nén vào trong, chỉ hiện ra trước cháu bằng sự dịu dàng, chở che.

Chi tiết xúc động nhất là khi bà nhường phần cơm trắng ít ỏi cho cháu, còn mình ăn củ chuối luộc chấm nước mắm. Bà mỉm cười, nói dối rằng “bà thích ăn củ chuối hơn cơm” để cháu yên lòng. Đằng sau nụ cười ấy là nỗi xót xa, hi sinh thầm lặng. Người bà ấy đã quen chịu khổ, nhưng không muốn để cháu phải buồn, phải lo. Hành động ấy nhỏ bé nhưng chứa đựng tình thương bao la, thể hiện tấm lòng bao dung và đức hi sinh vô điều kiện của người bà. Đó chính là vẻ đẹp lớn lao của tình thân ruột thịt trong gian khó.

Không chỉ ở chi tiết ấy, tình thương của bà còn thể hiện trong từng việc nhỏ. Khi em nhỏ không quen ăn cháo rau má mà nôn thốc nôn tháo, bà lập tức buông đũa, nhóm bếp nấu cơm cho cháu, dù hạt gạo rất ít ỏi. Khi không còn cách nào khác, bà đành ngậm ngùi bán con nghé non – tài sản quý giá nhất trong nhà. Khoảnh khắc con nghé bị dắt ra khỏi cổng, bà cháu òa khóc nức nở, gợi một nỗi đau xé lòng. Tất cả những chi tiết ấy đều cho thấy bà là hiện thân của tình thương, là người hi sinh tất cả vì con cháu.

Bên cạnh hình ảnh người bà, tình cảm của các cháu dành cho bà cũng thật đáng trân trọng. Nhân vật “tôi” trong truyện không hề vô tâm, ích kỉ. Ngược lại, cậu bé hiểu được nỗi cơ cực của bà, biết dặn em không vòi vĩnh, biết xót xa khi thấy bà gầy yếu, đêm đêm thở dài mệt mỏi. Cậu cũng nhạy cảm và tinh tế khi cố tình nói dối “cháu cũng thích ăn củ chuối hơn cơm” để bà yên lòng. Đó là sự đồng cảm, thương bà từ trái tim một đứa trẻ. Qua nhân vật “tôi”, ta thấy tình bà cháu không chỉ một chiều từ bà mà còn có sự đáp lại, chia sẻ, tuy nhỏ bé nhưng chan chứa tình yêu thương.

Tình bà cháu trong truyện không khép kín mà còn gắn liền với tình làng nghĩa xóm. Chi tiết bà hàng xóm sẵn sàng cho vay gạo, lại còn cho thêm khúc cá kho mặn thể hiện tinh thần đùm bọc, sẻ chia trong gian khó. Điều đó khiến tình bà cháu càng thêm ấm áp, bởi giữa sự thiếu thốn, vẫn còn có những vòng tay cưu mang từ cộng đồng. Đây cũng là giá trị nhân văn sâu sắc mà tác giả gửi gắm.

Nhìn rộng ra, tình bà cháu trong Mùa giáp hạt là hình ảnh tiêu biểu cho tình cảm gia đình Việt Nam: gắn bó, hi sinh, bền chặt. Trong gian khổ, chính tình thân đã nâng đỡ con người, giúp họ vượt qua thử thách. Truyện gợi cho người đọc bài học sâu sắc: phải biết trân trọng, yêu thương, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; phải biết quý trọng hạt gạo, giá trị của lao động và tình cảm gia đình. Đồng thời, tác phẩm còn phê phán những ai sống vô tâm, chỉ biết nhận mà không biết cho đi, thờ ơ với tình cảm máu mủ thiêng liêng.

Tình bà cháu trong Mùa giáp hạt giản dị mà lớn lao, âm thầm mà sâu nặng. Nó giống như một ngọn lửa ấm áp sưởi ấm tâm hồn trong mùa đông khắc nghiệt, giống như chiếc bóng mát chở che đời cháu giữa cái nắng gắt của cuộc đời. Đọc xong tác phẩm, ta không chỉ thương bà cháu trong câu chuyện mà còn thấy lòng mình lắng lại, muốn sống tốt hơn, biết yêu thương, quan tâm nhiều hơn đến gia đình.

Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc là một truyện ngắn thấm đẫm chất nhân văn, tái hiện chân thực cảnh đời cơ cực trong mùa giáp hạt, đồng thời làm sáng lên vẻ đẹp tình bà cháu sâu nặng. Tình cảm ấy vừa là nguồn cảm hứng nghệ thuật, vừa là bài học đạo lí về lòng hiếu thảo, về sự biết ơn, trân trọng những hi sinh thầm lặng trong gia đình. Mỗi chúng ta, khi đọc truyện, hãy để lòng mình rung động, hãy để trái tim nhắc nhở rằng: tình thân chính là món quà vô giá, là hành trang lớn nhất trong cuộc đời.

Phân tích Mùa giáp hạt của Phan Đức Lộc

Mùa giáp hạt là truyện ngắn cảm động, kể về khung cảnh khó khăn khổ cực của một gia đình nghèo qua lời kể của nhân vật tôi. Bằng lời kể giản dị sinh động kết hợp với dòng hồi tưởng của mạch cảm xúc, tác giả đã tái hiện lại chân dung người bà tần tảo lam lũ, hết lòng hi sinh vì con vì cháu suốt cả một đời người. Đó là thành công của Phan Đức Lộc nói riêng, cũng như cây bút truyện ngắn trẻ nói chung, khi ông đã giúp người đọc tái hiện lại những năm tháng mùa giáp hạt nghèo khó, với tình cảm gia đình thiêng liêng sâu nặng.

Trước hết, hình ảnh nhân vật bà qua lời kể của nhân tôi, là một người phụ nữ đã phải chịu khổ suốt cả cuộc đời: “ Đời bà khổ từ lúc lọt lòng cho tới tận về già, khi đã gần bước sang tuổi tám mươi vẫn còn chịu cảnh bần hàn, cơ cực.” Mở đầu đoạn trích, là hình ảnh bà nghẹn ngào thủ thỉ với đàn cháu khi mùa giáp hạt về, đã chứng minh cho sự lam lũ nhọc nhằn ấy. Tuy cuộc sống khó khăn, nhưng bà không để cho con cháu phải chịu thiệt thòi, chịu cái đói. Mùa giáp hạt về, trong nhà hết cái ăn, bà đã không quản khó khăn chạy vạy từng nhà để vay gạo, lo sao cho con cháu có cái ăn qua ngày: “ gạo trong chum hết sạch, bà phải tất tưởi mang rá sang nhà bên vay gạo. Dù gạo trong chum cũng đã vơi cạn, nhưng chẳng chút đắn đo, bà hàng xóm vẫn niềm nở cho bà tôi vay mấy bát gạo liền, lại còn cho thêm khúc cá đồng kho mặn.” Ta thấy rằng tuy cuộc sống có khó khăn vất vả, thế nhưng người dân quê không ngại ngần mà san sẻ, cùng đùm bọc nhau qua những ngày khó.

Bà sống cả đời với tình thương cho con cho cháu. Khi thấy đứa cháu nhỏ nôn thốc nôn tháo vì món cháo rau má trộn muối lạc đắng ngắt khó ăn, bà đã không cầm được lòng mà chạy đi thổi bát cơm trắng; nhường cháu bát cơm dẻo thơm còn mình thì đành lòng ăn củ chuối luộc. Để cháu không phải suy nghĩ, bà còn cười nói rằng: “ Lúc trưa bà ăn cơm giờ vẫn còn no lắm. Với lại bà thích ăn củ chuối hơn “. Ta thấy thật nghẹn lòng trước sự hi sinh thầm lặng ấy, khi ở cái tuổi 80 đáng nhẽ ra bà phải được nghỉ ngơi, không phải lắng lo bận tâm về chuyện cơm ăn áo mặc; thì ở đây bà lại phải lo từng bữa ăn cho đàn cháu nhỏ côi cút. Đỉnh điểm để nói về sự hy sinh của nhân vật bà, chính là chi tiết bà đã dằn lòng bán đi nốt tài sản quý giá nhất trong nhà, để lắng lo cho con cháu: “ Tài sản có giá trị lớn nhất trong nhà lúc ấy là con nghé non chưa tròn hai năm tuổi, bà đành ngậm ngùi bán đi. Còn nhớ hôm đó, khi người đàn ông đi đôi ủng da màu đen lẳng lặng dắt con nghé ra khỏi cổng, tôi và em tôi đã chạy theo òa khóc nức nở. Số tiền bán con nghé cũng chỉ vừa đủ trang trải nợ nần và mua thêm nửa yến gạo. Bằng ngôi kể thứ nhất kết hợp với mạch hồi tưởng từ quá khứ tới hiện đại, cùng việc sử dụng một loạt các từ ngữ biểu lộ cảm xúc, ta như được hoà mình và trong chính lời hồi tưởng của nhân vật tôi. Đặc biệt là chi tiết: “ Bà ôm hai đứa cháu nhỏ côi cút vào lòng, đôi mắt lại rơm rớm nước…” đã khiến ta không khỏi xúc động, khi thấy trước mắt là khung cảnh bà cháu nhỏ bé gầy gò ôm chặt lấy nhau trong cái đói nghèo của mùa giáp hạt.

Hiểu được nỗi khó khăn vất vả ấy, hơn ai hết, ta học được cách yêu quý và kính trọng ông bà cha mẹ - những người đã không quản ngại khó khăn nuôi nấng ta trưởng thành. Hơn nữa, ta càng khâm phục trước một loạt từ ngữ gợi tả, đã giúp ta thấu hiểu hơn về sự vất vả của bà, về cái nhọc nhằn của mùa giáp hạt- cái mùa con người ta dắt dìu nhau qua những ngày khó.

Chia sẻ bởi: 👨 Trịnh Thị Thanh
Liên kết tải về

Chọn file cần tải:

Tìm thêm: Văn mẫu lớp 10
Xác thực tài khoản!

Theo Nghị định 147/2024/ND-CP, bạn cần xác thực tài khoản trước khi sử dụng tính năng này. Chúng tôi sẽ gửi mã xác thực qua SMS hoặc Zalo tới số điện thoại mà bạn nhập dưới đây:

Số điện thoại chưa đúng định dạng!
Số điện thoại này đã được xác thực!
Bạn có thể dùng Sđt này đăng nhập tại đây!
Lỗi gửi SMS, liên hệ Admin
Sắp xếp theo
👨
Đóng
Chỉ thành viên Download Pro tải được nội dung này! Download Pro - Tải nhanh, website không quảng cáo! Tìm hiểu thêm
Nhắn tin Zalo