5 chính sách tiền lương có hiệu lực từ ngày 01/01/2021

  • 3 Đánh giá

Căn cứ theo Bộ Luật Lao động năm 2019 do Quốc hội ban hành ngày 20/11/2019 sẽ nhiều quy định mới liên quan đến chính sách tiền lương.

Theo đó, sẽ có những chính sách tiền lương cho công chức, người lao động thay đổi theo. Vậy mời các bạn cùng theo dõi 5 chính sách tiền lương có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 trong bài viết dưới đây:

Thứ 1: Mức lương tối thiểu vùng từ ngày 01/01/2021

- Mức lương tối thiểu được xác lập theo vùng, ấn định theo tháng, giờ

  • Căn cứ tại quy định tại Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 thì mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội;

- Không còn khái niệm "Lương tối thiểu ngành"

  • Theo quy định hiện hành tại Bộ luật Lao động 2012 quy định mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố.
  • Chính vì vậy theo Bộ luật Lao động 2019 không còn quy định khái niệm mức lương tối thiểu ngành nữa.

- Thêm nhiều căn cứ điều chỉnh mức lương tối thiểu

Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 91 Bộ luật lao động 2019 thì mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên các căn cứ sau:

  • Mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ;
  • Tương quan giữa mức lương tối thiểu và mức lương trên thị trường;
  • Chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế;
  • Quan hệ cung, cầu lao động;
  • Việc làm và thất nghiệp;
  • Năng suất lao động;
  • Khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Thứ 2: Về quyền của NLĐ khi không được trả lương đúng hạn

  • NLĐ có thể nghỉ việc ngay không cần báo trước nếu không được trả lương đúng hạn
  • Cụ thể, theo Điểm b Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019, thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước cho NSDLĐ nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019 (hiện hành Điểm a Khoản 2 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định phải báo trước 3 ngày).

Thứ 3: Về các trường hợp NLĐ được nghỉ việc riêng và hưởng nguyên lương

Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với người sử dụng lao động trong những trường hợp sau đây:

- Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

- Con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 01 ngày;

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 3 ngày.

Thứ 4: Quy định việc ủy quyền nhận lương của NLĐ

Căn cứ theo khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định NLĐ được ủy quyền cho người khác nhận lương trong trường hợp NLĐ không thể nhận lương trực tiếp (hiện Bộ luật lao động 2012 không có quy định này).

Tuy nhiên, người được ủy quyền có nhận được tiền lương của NLĐ hay không sẽ phụ thuộc vào các yếu tố:

  • Việc ủy quyền phải hợp pháp;
  • Người sử dụng lao động đồng ý, bởi Luật quy định người sử dụng lao động “có thể” trả cho người được ủy quyền chứ không bắt buộc.

Như vậy, so với quy định hiện hành, từ năm 2021, trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi; cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng chết thì người lao động được nghỉ 03 ngày và hưởng nguyên lương.

Đồng thời, quy định rõ hơn trường hợp "con đẻ", "con nuôi" kết hôn thì được nghỉ 01 ngày (hiện hành, quy định "con" kết hôn thì nghỉ 1 ngày); "con đẻ", "con nuôi" chết thì được nghỉ 03 ngày (hiện hành quy định "con" chết thì nghỉ 3 ngày).

Thứ 5: Nguyên tắc trả lương cho NLĐ

- Căn cứ theo Bộ luật lao động 2019 bổ sung quy định người sử dụng lao động không được:

  • Hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của NLĐ;
  • Ép buộc NLĐ chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

- NLĐ được nhận bảng kê trả lương mỗi lần nhận lương, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có). Đây là điểm mới tại Khoản 3 Điều 95 Bộ luật Lao động 2019, chưa có ở Luật Lao động 2012.

- NLĐ không phải trả phí mở tài khoản nếu trả lương qua ngân hàng (hiện hành theo quy định tại Khoản 2 Điều 94 Bộ luật lao động 2012 thì là hai bên thỏa thuận).

- NLĐ được đền bù một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho NLĐ công bố tại thời điểm trả lương nếu bị trả lương chậm từ 15 ngày trở lên theo quy định tại Khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019.

Cập nhật: 25/11/2020
  • 843 lượt xem